Nam mô A di đà Phật Nam mô A di đà Phật Nam mô A di đà Phật Nam mô A di đà Phật Nam mô A di đà Phật Nam mô A di đà Phật Nam mô A di đà Phật Nam mô A di đà Phật Nam mô A di đà Phật Nam mô A di đà Phật Nam mô A di đà Phật Nam mô A di đà Phật Nam mô A di đà Phật Nam mô A di đà Phật Nam mô A di đà Phật Nam mô A di đà Phật Nam mô A di đà Phật Nam mô A di đà Phật Nam mô A di đà Phật Nam mô A di đà Phật Nam mô A di đà Phật Nam mô A di đà Phật Nam mô A di đà Phật Nam mô A di đà Phật Nam mô A di đà Phật Nam mô A di đà Phật Nam mô A di đà Phật Nam mô A di đà Phật


        Ở trang này, trừ những phần sửa chữa nhỏ (cách dùng từ, lỗi đánh máy, hình không thích hợp với bài viết, v.v...), Tịnh sẽ thông báo đến quý vị những gì sẽ cập nhật hay là mới cập nhật để tiết kiệm thời giờ của quý vị.


        Kính chào quý vị, Tịnh thành lập trang Tu Và Hành này vào khoảng 2006. Đã năm năm trôi qua, mặc dù trí huệ của Tịnh lúc đó đã củng cố, mở mang nhiều nhưng không tránh khỏi những thiếu sót. Do vậy trong thời gian tới Tịnh sẽ xem lại tất cả các bài nói Pháp, thuyết Pháp của Tịnh ở những trang phụ LỜI ĐỨC PHẬT DẠY VÀ KINH ĐIỂN và PHÁP LUẬN để chỉnh sửa những thiếu sót và thêm vào nhiều sự nói Pháp hữu ích. Sau đó Tịnh sẽ xem xét lại một lần nữa rồi điền vào tháng, năm cho những sự nói Pháp và thuyết Pháp của Tịnh. Tịnh sao lại một số bài nói Pháp và thuyết Pháp đó, đặt một tiêu đề phù hợp rồi đăng ở trang NHỮNG LỜI KHUYÊN PHẬT GIÁO để quý vị tiện học hỏi. Tịnh cũng đăng những hình phù hợp cho những trang mà Tịnh xem xét lại. Sau khi làm xong phần nào những sự nói Pháp và thuyết Pháp, Tịnh sẽ cho quý vị biết ở trang này. A-di-đà Phật, Tâm Tịnh. 

         Kính chào một số quý vị ở trang Tầm Tay, trước đây Tịnh đã có một số lời khuyên đến quý vị nhưng một số quý vị vẫn còn đăng hình muốn làm quen. Tịnh lập một trang tạm thời là TRÒ CHUYỆN VỚI CÁC QUÝ VỊ Ở TRANG TẦM TAY để có một số lời khuyên và sự nói Pháp với quý vị. Trang Tầm Tay là trang để các quý vị ba miền Bắc, Trung, Nam đến để giải trí và làm quen. Ban quản trị trang Tầm Tay ở miền Bắc và Tịnh có biết một số quý vị ở đây qua một vài lần nói chuyện. Tịnh cũng biết một số quý vị khác qua một vài lần nói chuyện. Tịnh đang nhờ nữ ca sĩ Hương Thủy giúp đỡ nhưng mà chưa biết ra sao nữa. Tịnh cám ơn quý vị đã có ý tốt muốn giúp đỡ Tịnh nhưng mà ở bên Việt Nam xa quá Tịnh không qua được. Quý vị nào ở ba miền Nam, Trung, Bắc muốn có câu hỏi gì thì cứ đăng hình ở trang Tầm Tay hay là hỏi ở hộp shoutmix ở trang chủ. Mong quý vị đừng mặc đồ hở hang vì Tịnh là người tu hành.  A-di-đà Phật, Tâm Tịnh.  



        Nam-mô A-di-đà Phật, kính chào quý vị, Tịnh xin phép được đổi tất cả các pháp danh Phật tử của Tịnh thành pháp hiệu Tăng sĩ của Tịnh là Quang, Sa di Thích Huyền Quang do Bề Trên đặt cho.  Lý do là Quang thấy chữ Tịnh gần giống chữ gì mang ý ái dục.  Thời gian vừa qua Quang bận cho chuyện làm ăn và quen Hương Thủy.  Nay Quang đã hết quen Hương Thủy chỉ còn lo chuyện làm ăn.  Như Quỳnh thì Quang đã hết quen khoảng ba tháng.  Cách nay khoảng hai tuần Quang dành thời gian để trò chuyện với các quý vị ở trang Tầm Tay.  Thời gian tới thì Quang rãnh rỗi hơn và sẽ đăng nhiều thông tin Phật pháp trở lại để phục vụ quý vị.  Ngoài ra Quang cũng đăng những thông tin khác có nội dung Phật giáo.  Quang cũng đăng thêm những thông tin ở trang Phật giáo tiếng Anh.  Kính mong quý vị hoan hỉ.  Sa di Thích Huyền Quang 


        Kính thưa quý vị, trước đây có một Phật tử hay Tăng sĩ tên là TinhYeu_LyTuong ở trang Tamtay đã đăng một bài kinh nói về ai không cúng dường khi gặp Tăng sĩ thì kiếp sau này sẽ nghèo. Do đó Huyền Quang đã thưa với Bề Trên là khi Quang gặp quý vị ở trang www.Tamtay.vn hay là trang www.TuVaHanh.com và tất cả những người mà Quang gặp mặt thì Quang là Phật tử Huệ Quang chứ không phải là Tăng sĩ Huyền Quang. Huệ Quang là Pháp danh mà Bề Trên, đặc biệt là Bồ-Tát Quán-Thế-Âm mới đặt cho Huyền Quang. Do đó quý vị sẽ không bị mang nghiệp. Huệ Quang mong quý vị đừng lo. Phật tử Huệ Quang


        Mới:  A Di Đà Phật, chào các quý vị của Đại Học Nhân Văn ở trang Tamtay, tối hôm qua Bề Trên khuyên Quang là nên có vài lời khuyên với các cô.  Quang vào trang Tamtay tối qua để xem những hình của các cô.  Các cô ai cũng đẹp và duyên dáng.  Quang chúc mừng những cô đoạt giải cuộc thi tài sắc của ĐHNV.  Tối hôm qua Quang định trò chuyện với các cô nhưng mà đêm đã khuya.  Hôm nay Quang đi công chuyện với em trai vài nơi gần hết ngày.  Quang đã xem hình của các cô và đã có những lời khuyên đến các cô vào ngày mai, Quang cũng có vài lời khuyên đến một số quý vị ở trang Tamtay mà Quang chưa khuyên vì quên.  A Di Đà Phật, Quang sẽ trò chuyện với các cô ban ngày vì lúc đó lý trí, trí huệ sẽ có nhiều minh mẫn hơn, còn buổi tối thì sự trò chuyện có thể nghiên về phía cảm tình !  Sự dùng lý trí hay trí huệ thì đúng với Chánh pháp, do đó Quang rồi các cô không bị nghiệp xấu.  Sự dùng cảm tình thì ngược lại không đúng với Chánh pháp, do đó Quang rồi các cô bị nghiệp xấu.  Hành giả có trí huệ trong Phật giáo dùng từ bi chứ không dùng cảm tình đối với những người nữ, cảm tình và từ bi là hai quan niệm hoàn toàn khác nhau.  Trong các bài đăng nói về TìnhTưởng thì quý vị biết là Tình thì đi xuống còn Tưởng thì đi lên, tình là vô minh còn tưởng là trí huệ.  Ngày mai Quang sẽ đăng bài cho quý vị ở đây, A Di Đà Phật 

        Mới:  A Di Đà Phật, chào các vị của Đại Học Nhân Văn ở trang Tầm Tay, đây là lần cuối Quang nói chuyện với nhóm thi của các vị.  Những lần khác Bề Trên có khuyên Quang trò chuyện với nhóm nào khác thì Quang xin Bề Trên được khỏi trò chuyện vì Quang không còn vào trang Tầm Tay.  Sau đây là một số lời khuyên đến các vị: 

        a.  Các vị nên tu hành theo pháp môn Niệm Phật liền không chậm trễ.  Trong tất cả những lời khen của Bề Trên cho Quang mà được hiện ra trên mây thì Bề Trên khen Quang nhiều nhất khi Quang tu hành theo pháp môn Niệm Phật khá và giỏi.  Bề Trên còn khen Quang nhiều hơn nhiều so với những lần Quang chứng đạt vài quả Thánh.  Các vị cần tu hành theo pháp môn niệm Phật vì đó là việc nên làm nhất trên đời theo một bộ phim Phật giáo với tựa đề "Việc nên làm nhất trên đời" do Đài Loan sản xuất. 

        b.  Quang chỉ có vài Hào Quang hay là vài quả vị Thánh.  Những hình Quang đăng có vài Hào Quang để cho các vị xem ở trang Tầm Tay là những hình khác nhau của cùng những Hào Quang. 

        c.  Ai cũng có sẵn Pháp thân rất lớn và tâm Phật (còn gọi là Phật tánh hay tâm thật).  Có điều là quý vị chưa biết làm sao và không chịu tu hành để có một Pháp thân rất lớn và đẹp.  Như muốn có tiền phải chịu khó làm việc, muốn có tương lai phải cắp sách đến trường, muốn có trí huệ phải thường đọc Kinh điển và có sự văn (đọc kinh), (rồi tư duy), tu (rồi tu-hành để chứng nghiệm những gì mình vừa học để xem có đúng hay không), muốn chứng quả thì phải chịu khó tu hành. 

        d.  Khi Quang nói: Kính thưa quý vị, quý vị có thể hiểu là Quang ngụ ý quý vị là Cha Mẹ đời trước của Quang. Một lý do mà Quang làm tăng sĩ là vì Quang thương Cha Mẹ đời trước. Thỉnh thoảng quý vị có thể nghĩ là Cha Mẹ của Quang cũng được, nhưng đừng lúc nào cũng suy nghĩ mà không nên, quý vị nữ có thể có những suy nghĩ ái tình và ái dục trong những suy nghĩ đó.

        e.  Kinh Pháp Cú có những câu rất hay mà các vị nên nhớ và làm theo, có nghĩa là tu-hành theo: 

        "Việc đáng làm phải làm
        Làm rồi không hối hận
        Làm rồi không ăn năn. 

        Việc không đáng làm thì đừng làm
        Làm rồi phải hối hận
        Làm rồi phải chịu khổ đau." 

        Việc đáng làm là việc tu, tu theo những gì Đức Phật đã thuyết trong Kinh điển tùy theo sức của mình. 
Các vị nên quy y Tam Bảo để trở thành Phật tử vì quy y Tam Bảo là việc lớn nhất trên đời theo bài giảng của HT.  Tuyên Hóa.  Rồi sau đó tùy theo sức của mình mà có thể giữ những giới khác nhau khác.
        Việc không đáng làm là việc phải hành, hành là sửa chữa những thói hư tật xấu còn lưu lại từ nhiều kiếp đến nay cho đến kiếp hiện tại.  Những gì Đức Phật, chư Bồ Tát khuyên đừng làm thì quý vị đừng nên làm, những gì các Ngài khuyên phải sửa chữa thì các vị phải nên sửa chữa.  Mười điều nên làm nhất là Thập thiện.  Mười điều không nên làm nhất là Thập ác trái hẳn với Thập thiện.  Những việc ác rất dễ làm, vì dễ nên ai cũng ham làm.  Những việc thiện rất khó làm, vì khó nên ai cũng chê không chịu làm.  Vì vậy nên mới có hai chữ TU và HÀNH.  Tu hành tuy khó nhưng hạnh phúc chân thật đạt được lại rất nhiều.  Không tu hành tuy dễ nhưng nếu biết nhìn nhận thì chẳng có được gì là hạnh phúc chân chật cả. 

        g.  Kinh Pháp Cú có những câu rất ý nghĩa sau đây: 

        "Đêm dài cho kẻ thức,
        Đường dài cho kẻ mệt,
        Luân hồi dài kẻ ngu: 
        Không biết chơn Diệu Pháp."

        Nếu không biết nương theo Pháp môn Niệm Phật, là pháp môn hay nhất trong 84,000 pháp môn, là pháp môn dễ tu, dễ chứng, hợp thời cơ trong thời kỳ Mạt pháp hiện nay.  Nếu các vị không biết nương theo pháp môn Niệm-Phật để thoát ly sanh tử, ra khỏi tam giới, lục đạo ngay trong kiếp này thì còn đợi chừng nào nữa? 

        h.  Sách có câu: 
        "Mạc đãi lão lai phương niệm Phật
        Cô phần đa thị thiếu niên nhơn."  chuyển sang Việt ngữ là:
        "Đừng đợi đến già mới niệm Phật
        Đồng hoang (có) mồ (của những người) trẻ thiếu chi người."
       
        i.  Sách có câu: 
        "Mạc đãi lão lai phương thiện hạnh
        Cô phần đa thị thiếu niên nhơn."  chuyển sang Việt ngữ là:
       
"Đừng đợi đến già mới mới chịu tu (hành)
        Đồng hoang (có) mồ (của những người) trẻ thiếu chi người."

        k.  Đức Phật có thuyết trong Kinh Pháp Cú:
        "Ai sống một trăm năm
        Không thấy Pháp tối thượng
        Tốt hơn sống một ngày
        Thấy được Pháp tối thượng."
 
        l. 
Đức Phật có thuyết trong Kinh Pháp Cú: 
        "Chỉ một lời Chánh pháp
        Nghe xong tâm bình an
        Còn hơn cả muôn vàn
        Những sách vở vô dụng."

        m.  Đức Phật có thuyết trong Kinh Pháp Cú:
        "Nếu thấy bậc Hiền Trí
        Chỉ lỗi và khiển trách
        Như chỉ chỗ chôn vàng
        Chỉ tốt hơn không xấu." 

         n. Sách có câu: "Người có đạo đức không nói thì thôi, nếu đã nói thì thường nói những câu có nghĩa lý."

        
o. Tổ Quy Sơn có dạy:
"Giả sử bá thiên kiếp,
Sở tác nghiệp bất vong.
Nhơn duyên hội ngộ thời,
Quả báo hoàn tự thọ."
chuyển sang Việt ngữ là:
"Dầu cho trăm ngàn kiếp,
Nghiệp gây tạo vẫn còn.
Khi nhân duyên đầy đủ,
Báo ứng đến không sai." 


        Do đó quý vị phải giữ ba nghiệp thân, khẩu, ý (thân làm, miệng nói, tâm ý suy nghĩ) trong sạch, thường xuyên quán chiếu để giữ giới và hạnh nếu có, thường xuyên quán chiếu đừng để phạm 10 nghiệp Thập ác từ nhẹ tới nặng (hạ phẩm thập thiện, trung phẩm thập thiện và thượng phẩm thập thiện).  Quý vị cũng thường niệm Phật, lạy Phật và có những buổi tụng kinh sám hối định kỳ để tiêu trừ những nghiệp xấu và nghiệp ác.  Có những nghiệp không thể sám hối là năm tội ngũ nghịch.  Năm tội ngũ nghịch không thể nào sám hối được là:  Giết Cha, giết Mẹ, phá hòa hợp Tăng, làm chảy máu thân Đức Phật và giết bậc Thánh A-la-hán, Hòa Thượng, A-xà-lê là Thầy dạy đạo hay Sư trưởng. 

        Có những buổi lễ sám hối trọng thể để tiêu trừ những tội nặng, nhưng đã sám hối rồi thì không được tái phạm nữa.  Nếu còn tái phạm thì sẽ bị định nghiệp, là nghiệp trước sau gì cũng xảy ra không thể sám hối.  Có nhiều loại nghiệp khác nhau trong Phật giáo, quý vị phải nên xem rồi ứng dụng và cẩn thận không nên xem thường. 

         p. Thơ Phật giáo có những câu rất ý nghĩa:
"Đời tàn Đạo Đức khó hoằng khai,
Tận lực, khổ tâm há mực nài.
Bát-nhã
(là Trí-huệ hay Trí-huệ Bát-nhã): Đuốc thiêng nguyền rọi mãi,
Đưa người thoát khỏi chốn trần ai
(chốn trần gian)."

        A Di Đà Phật, trân trọng, Pt Huệ Quang. 



        Mới:  A Di Đà Phật, chào các vị, trang có những phông chữ tiếng Việt VPS Fonts của Hội Chuyên Gia Việt Nam (Vietnamese Professional Society) đã không còn có những phông chữ và chương trình dùng dấu Việt ngữ để hạ tải nữa.  Máy vi tính mới của Quang đã bị hư.  May quá Quang gắng sửa máy vi tính cũ thì lại có thể lên mạng được ^^.  Những ngày tới Quang sẽ có những lời khuyên Phật giáo đến các vị nhân dịp năm mới.  Những đề tài sẽ là Đạo và đời tuy có vẻ nghịch nhau nhưng lại là bổ sung cho nhau, nếu cố gắng tu hành thì sẽ được Phật và Bồ Tát giúp đỡ, vài điều chướng ngại cho sự tu hành theo pháp môn Niệm Phật mà các vị nên biết, các vị nên khuyên con em đừng nên vui đùa quá nhiều mà rất có hại, các vị nên khuyên con em đừng chơi những trò chơi hung dữ không đúng với Chánh pháp mà rất có hại, Phật pháp đi ngược với thế gian pháp, do đó mới có hai chữ tu và hành, Chư Phật và chư Bồ Tát thị hiện là có thật 100%, chư Thánh và thiện thần, chư thiên, các thánh thần ngoại đạo là có thật 100%, yêu ma, quỷ mỵ là có thật 100%:  Những điều Huệ Quang nhận thấy và kinh nghiệm trong quãng đời tu hành, bài Pháp này thì khá dài với những hình ảnh và hình vẽ để giúp các vị có thêm nhiều tín tâm và hiểu thêm về Phật giáo.  Bài Pháp này sẽ được đăng nhiều lần.  Nhiều bức tranh có nội dung Phật giáo.  Thỉnh thoảng Quang có ghé trang Tamtay.vn, hiện giờ đang có cuộc thi cho các người nữ ở trường Đại học Nguyễn Tất Thành, TP HCM.  Quang sẽ đăng một số lời khuyên Phật giáo cho các vị.  Quang sẽ tìm đăng một số lời khuyên mà Quang đã đăng cho hai mươi người nữ giỏi nhất của trường Đại học Ngoại Thương HN trước đây.  Do đó các người nữ và người nam khác sẽ có dịp tham khảo.  Nhiều bài Pháp bằng tiếng Anh ở trang Phật giáo tiếng Anh www.TrueHappiness.ws, nếu vị nào biết rành tiếng Anh thì qua đó để đọc cùng những Phật sự khác.   

        Nhân dịp năm mới Nhâm Thìn 2012 Huệ Quang kính chúc chư Tôn Đức Tăng Ni Pháp thể khinh an, chúng sanh dị độ, Phật sự viên thành.  Quang kính chúc chư Phật tử, chư liên hữu vá các quý vị khác thân tâm an lạc, tín tâm kiên cố, Bồ Đề tâm bất thối, Phật sự viên thành.  Quang kính chúc chư Tịnh tông học hữu tín, hạnh, nguyện kiên cố; tu hành đúng cách, mau chóng vãng sanh. 




        Mới:  Như đã nói, Quang đăng những sự nói Pháp của Quang ở đây, rồi đăng ở trang thích hợp để các vị tham khảo.  Sau đây là những đề tài nói Pháp: 

        a.  Đạo và đời tuy có vẻ nghịch nhau nhưng lại là bổ sung cho nhau, nếu tinh tấn tu hành thì sẽ được Phật và Bồ Tát giúp đỡ:  Nếu không có đời thì sẽ không có Đạo.  Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thị hiện ở thế gian này nói riêng và chư Phật thị hiện ở những thế gian khác nói chung vì các Ngài nhận thấy đời sống ở thế gian còn nhiều đau khổ, "chúng sanh bị vô minh bao bọc như vỏ trứng gà bao bọc con gà con" nên mới thị hiện ở những thế gian để "khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến."  Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến là giúp cho chúng sanh hiểu rõ rồi tu hành theo những gì chư Phật đã thấy và biết tường tận.  Vì có sự đau khổ ở đời nên chư Phật và những chúng sanh có tâm tu hành khác mới phát Bồ Đề tâm để tự độ và độ tha, là tự mình tu hành và giúp đỡ cho những người khác tu hành.  Trong Phật giáo có những câu thơ ý nghĩa: 

        "Đời không đạo đời vô liêm sỉ

        Đạo không đời đạo chỉ cho ai?"

        Lục Tổ Huệ Năng có thuyết "Nếu muốn tìm Đạo ở ngoài đời thì khác nào đi tìm lông rùa, sừng thỏ."  Nói một cách khác thì muốn tìm Đạo ở ngoài đời thì thực là một chuyện hết sức xa rời thực tế, như chuyện rùa có lông và thỏ có sừng là chuyện không có thật và chưa ai nhìn thấy bao giờ.  Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có thuyết Mười điều tâm niệm rất ý nghĩa, trong đó có hai câu "Việc làm đừng mong dễ thành, vì việc làm dễ thành thì kiêu căng nổi dậy.""Tu Đạo đừng mong không bị ma chướng, vì không ma chướng thì chí nguyện không kiên cường."  Đời sống còn đầy dẫy những khó khăn, dân số thế giới ngày càng đông, nguồn tài nguyên thiên nhiên càng lúc càng ít lại, nhiều người bị chết đói, ngay cả nước uống trong sạch cũng càng lúc càng ít đi.  Đời sống càng hiện đại hóa thì loài người càng có nhiều điều kiện để tạo nhiều nghiệp xấu, tự mình dần dần hại mình một cách oan uổng mà không biết.  Ma chướng thì có bốn loại như Quang đã nói là Phiền não ma, ngũ ấm (ngũ uẩn) ma, Thiên ma và tử ma.  Đại đa số người trên thế giới đều đang sống theo nghiệp ma, bị ma (đại đa số loài người đều đang bị những oan gia, trái chủ, cô hồn, hữu tình ở những kiếp trước theo hại để trả thù) dựa, bị ma coi thường và bị ma theo hại.  Chỉ có những Phật tử tu hành tinh tấn, chư Tăng Ni và những ai tinh tấn tu hành theo pháp môn niệm Phật mới hy vọng không có ma theo trả thù.  Đức Phật vì thấy đời đau khổ nên Ngài mới nói Pháp là con đường Đạo để chúng sanh tu hành giải thoát hết những đau khổ.  Ngài thuyết "Nước biển chỉ có một vị mặn, cũng vậy Pháp của Ta chỉ có một hương vị, đó là hương vị giải thoát." 

        Nếu ai tinh tấn tu hành thì sẽ được Phật và Bồ Tát giúp đỡ là nếu ai tinh tấn tu hành thì người đó đang cố gắng vượt qua những khó khăn để mau chóng được thành tựu trên đường Đạo.  Vì thế người đó có cảm thì Phật và Bồ Tát sẽ có ứng, là sẽ giúp đỡ người đó.  Quang đưa ra một ít dẫn chứng mà Phật và Bồ Tát đã giúp Quang: 

         a1.  Hai sự giúp đỡ cấp kỳ về sự đi lại khi Quang đang rất cần:  Hồi còn tu hành ở Cali thì Quang có ghé tiệm sách Phật giáo Pháp Quang để xem và mua sách.  Người chở Quang đến tiệm sách vì bận công chuyện nên rời khỏi tiệm.  Quang mua sách, tính tiền xong và đang suy nghĩ không biết làm sao để về lại chùa thì khoảng hai ba phút có Phật tử cao lớn ghé tiệm sách.  Quang hỏi người Phật tử đó có biết chùa không và Quang đang cần giúp đỡ.  Người Phật tử vui vẻ chở Quang về đến tận nơi.  Lần khác vì Quang muốn giúp đỡ ca sĩ Hương Thủy về Phật pháp và có một lần Hương Thủy hát ở sòng bài Indiana nên Quang muốn đi xem.  Quang đã xem những bản đồ hướng dẫn đường đi ở Google map và Yahoo map hai, ba lần kỹ lưỡng nhưng vì đường quá lạ nên Quang bị lạc đường.  Quang phải chạy ngược lại và lái vào một tiệm xăng để mua bản đồ hướng dẫn đường.  Nhưng vài cái bản đồ không có cái nào hướng dẫn rõ ràng cả !  Đang lưỡng lự thì có một anh tài xế lái taxi vào tiệm đến gần chỗ Quang để xem bản đồ.  Quang nói với anh ta là Quang tìm mua bản đồ không có và bị lạc đường.  Anh ta vui vẻ nói Quang chạy xe sau xe anh ta để anh ta hướng dẫn Quang một quãng đường miễn phí.  Anh ta hướng dẫn Quang xong thì chào Quang và chạy xuống exit.  Quãng đường còn lại Quang không gặp khó khăn và đã đến nơi Hương Thủy hát một cách an toàn.  Quang đã không chạy xe trên xa lộ một thời gian dài.  Quang nghe theo lời Bề Trên nên rất hiếm khi chạy xe trên xa lộ. 

        a2.  Hai sự thành tựu Pháp thân khi Quang tinh tấn tu hành:  Quang bị mất vài cái răng trước đây, nếu nhìn ở phía trước thì có một cái răng cửa bị mất.  Quang vì tinh tấn tu hành nên bỏ qua vài dịp đi trồng răng.  Có rất nhiều Phật sự vì thế được hoàn thành mỹ mãn.  Một hôm Quang nằm mơ thấy có được một cái răng cửa sắc vàng chiếu óng ánh rất đẹp.  Quang thích cái răng này lắm vì chưa từng thấy ai có răng đẹp như vậy.  Một thời gian sau Quang về Việt Nam trồng những răng sứ giá cả phải chăng đẹp ngoài ý muốn.  Đức Phật thuyết nếu ai ăn chay ngày một bữa trước giờ ngọ thì dạ dày sẽ khỏe vì không phải làm việc nhiều lần trong ngày.  Ngoài ra có rất nhiều ngạ quỷ sẽ không bị rất đau khổ do không ăn được nên sẽ theo báo thù vì họ được thả ra sau giờ ngọ.  Quang nghe theo lời Đức Phật ăn ngày một bữa trước giờ ngọ khoảng tám năm.  Quang ăn một lần ba tô nên bụng nhìn hơi to ra khác thường.  Qua cảm ứng đạo giao nan tư nghì với Bề Trên thì Quang có thân hình to lớn sắc vàng của một vị Thánh với khoang bụng khỏe khoắn có sáu múi.  Đức Phật thuyết "Đừng đánh giá chư Phật và chư Tăng qua hình tướng."  Pháp thân của Quang so với nhục thân, báo thân hiện kiếp thì khác xa vô cùng.  Quang sống là sống cho Pháp thân vì Pháp thân muôn đời là thật, còn báo thân hiện kiếp thì Quang chỉ muốn lợi dụng nó tu hành để làm hoàn thiện Pháp thân. 

        2.  Vài điều chướng ngại cho sự tu hành theo pháp môn Niệm Phật mà các vị nên biết:  

        2a.  Các vị có thể tham khảo ở48 Đại Nguyện của Đức PHẬT A Di Đàđể biết thêm chi tiết, nhất là các Đại Nguyện  18, 19 và 20.  Ngoài ra các vị còn có thể tu hành theo những hạnh sau đây để hồi hướng Vãng sanh:

        Tịnh Nghiệp Tam Phước:  Là chánh nhân Tịnh nghiệp của chư Phật mười phương, ba đời: 

        1. Hiếu dưỡng Cha Mẹ, phụng thờ Sư trưởng, lòng từ bi không giết hại, tu thập thiện nghiệp.
        2. Thọ trì Tam quy, giữ vẹn các giới, chẳng phạm oai nghi.
        3. Phát Bồ Đề tâm, tin sâu Nhân quả, đọc tụng Kinh điển Đại thừa, khuyến tấn người tu hành.

         Lục Hòa:

        1. Kiến hòa đồng giải.
        2. Giới hòa đồng tu.
        3. Thân hòa đồng trụ.
        4. Khẩu hòa vô tranh.
        5. Ý hòa đồng duyệt.
        6. Lợi hòa đồng quân.

        Tam Học: Giới học, Định học, Huệ học.

        Lục Độ: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Bát nhã (còn gọi là Trí Tuệ hay Trí Tuệ Bát nhã).

        Thập Nguyện:

        1. Lễ kính chư Phật.
        2. Khen ngợi Như Lai.
        3. Rộng tu cúng dường.
        4. Sám hối nghiệp chướng.
        5. Tùy hỷ công đức.
        6. Thỉnh chuyển pháp luân.
        7. Thỉnh Phật trụ thế.
        8. Thường tùy Phật học.
        9. Hằng thuận chúng sanh.
        10. Hồi hướng tất cả.

        Công khóa hằng ngày, y theo Tịnh Tu Tiệp Yếu, Bảo Vương Tam Muội Sám, nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật, không hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn, cầu sanh Tịnh độ, quảng độ hữu tình chúng sanh

        2b.  Các vị nên luôn khiêm tốn, không nên kiêu căng, ngã mạn. 

        2c.  Các vị nên ghi nhớ sự thực hành Niệm Phật vẫn là chánh, còn các hạnh tu hành khác để hồi hướng cho sự tu hành Niệm Phật của các vị vẫn là phụ. 

        2d.  Theo thống kê của cư sĩ Tịnh Hải thì đa số các trường hợp Vãng sanh mà cư sĩ nghiên cứu thì người Niệm Phật được Vãng sanh trong thời gian trung bình khoảng hai năm.  Một ngày người đó phải niệm trung bình 10,000 danh hiệu Đức Phật A Di Đà.  Các vị nên ghi nhớ là thống kê luôn luôn đúng và thực tế cho thấy là vậy.  Vì vậy các vị phải nên niệm ít nhất là 10,000 danh hiệu Phật A Di Đà trong một ngày.  Con số đó có vẻ là quá nhiều nhưng nếu các vị có những xâu chuỗi niệm Phật đeo tay hoặc đeo cổ thì các vị có thể dễ dàng niệm nhiều danh hiệu Phật trong một ngày.  Trong một giờ các vị có thể niệm được khoảng 4,000 danh hiệu Phật, do đó chỉ cần 2 tiếng rưỡi thì các vị có thể niệm đủ 10,000 lần hồng danh của Đức Phật A Di Đà.  Nếu các vị có thời gian công phu niệm Phật trước đạo tràng (nơi có tượng của Bề Trên) thì các vị có thể niệm đủ 10,000 lần danh hiệu Phật.  Các vị có thể niệm được nhiều lần danh hiệu Phật khi các vị đang làm việc nhà hay lúc nghĩ ngơi.  Các vị có thể niệm Phật trong lúc đang đi, đứng, nằm, ngồi.  Các vị có thể niệm thầm trong tâm không ra tiếng, niệm nhỏ se sẽ môi hay niệm ra tiếng.  Các vị có thể có thời gian đó khi các vị bỏ bớt thời gian cho bạn trai, bạn gái;  thời gian nói chuyện phiếm, thời gian rượu chè, thời gian đi chơi, thời gian giải trí, v.v...  Trường hợp của các bậc tu hành có khả năng nói Pháp, thuyết Pháp, độ được nhiều chúng sanh cho dù các bậc tu hành đó niệm Phật đúng cách, niệm nhiều, niệm đều đặn mà Vãng sanh trễ hơn hai năm là những trường hợp cá biệt.  Chẳng hạn như Pt Huệ Quang, TT.  Thích Hải Quang, HT.  Thích Thiền Tâm, PS Pháp Nhiên Thượng Nhân (là hóa thân của Bồ Tát Đại Thế Chí xuống cõi trần để hóa độ chúng sanh).  Phương châm Vãng sanh của các bậc tu hành này là: 

        "Chưa phải lúc (Vãng sanh) thì (còn) (lại cõi trần để hóa độ chúng sanh)

        Đến lúc (Đức Phật A Di Đà báo mộng cho biết ngày giờ Vãng sanh) thời ra đi (là Vãng sanh bỏ lại hết tất cả)." 

        2e.  Các vị cần phải có đầy đủ Tín, Hạnh, Nguyện đầy đủ.  Nếu chỉ có Tín, Hạnh mà còn thiếu Nguyện;  Tín, Nguyện mà còn thiếu Hạnh;  Hạnh, Nguyện mà còn thiếu Tín thì các vị chưa Vãng sanh được, như cái kiền hay cái lư ba chân mà mà thiếu một thì sẽ ngã. 

        2g.  Các vị đừng vì ham mê danh lợi ở đời, lo làm ăn mà bỏ bê pháp môn Niệm Phật hay không còn niệm Phật nữa.  Lúc đó hoa sen của các vị ở cõi Tịnh Độ sẽ héo dần, nhạt màu và không còn tỏa sáng.  Giả sử khi các vị được Vãng sanh có Đức Phật A Di Đà đến tiếp dẫn các vị mà có ai đem vàng bạc châu báu của cả ba cõi Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới cho các vị và nói các vị là đừng Vãng sanh thì các vị cũng đừng bao giờ nghe theo.  Vì vàng bạc châu báu cho dù có nhiều đến đâu cũng không bao giờ có thể giúp cho các vị được Vãng sanh thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử vô cùng vô tận, không biết nơi bắt đầu khi nào đã sanh ra làm chúng sanh phàm phu và dường như chẳng có lúc kết thúc, không biết khi nào mới hết tái sanh.    Do đó ham mê danh lợi ở đời mà bỏ bê pháp môn Niệm Phật là một sai lầm rất lớn.  Trước sau gì các vị cũng bỏ lại hết tất cả để mà Vãng sanh mà phải không?  Do đó các vị cần phải đặc biệt lưu ý điều này. 

        2h.  Khi niệm Phật A Di Đà trước đạo tràng có tượng Phật hay ở những nơi khác, các vị phải giữ cho tâm được trong sạch không có vọng tưởng gì cả qua những tiếng niệm Phật A Di Đà của các vị.  Do đó các vị mới dễ Vãng sanh.  Niệm Phật mà còn vọng tưởng tán loạn thì các vị khó được Vãng sanh. 

         c.  Các vị nên khuyên con em đừng nên vui đùa quá nhiều mà rất có hại: 

        Các cháu nhỏ ở Mỹ và có thể ở những quốc gia có nền văn minh khác, nhất là các cháu gái, thường hay thích vui đùa.  Các cháu luôn tìm hết trò này đến trò nọ để vui đùa và cười giỡn, nhiều thời gian dành cho những trò chơi giải trí trên mạng, rồi xem các chương trình phim hoạt hình ở các máy vô tuyến truyền hình, rồi xem sách báo thiếu nhi.  Các cháu không biết là tâm càng ô nhiễm thì càng nhiều tội để tái sanh trong vòng luân hồi sanh tử.  Tâm càng ô nhiễm thì càng bị mất nhiều phước do đó thọ mạng càng lúc càng giảm.  Đức Phật thuyết "Mười pháp giới không ra ngoài một tâm niệm."  Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện có thuyết "Chúng sanh ở cõi Diêm Phù Đề hễ dấy lên một tâm niệm thì liền tạo ra một nghiệp nhân để tái sanh trong vòng luân hồi."  Nghiệp nhân tốt hay tâm niệm tốt thì tái sanh ở cõi lành trong vòng luân hồi.  Nghiệp nhân xấu hay tâm niệm xấu thì tái sanh ở cõi xấu hay cõi dữ trong vòng luân hồi.  Kinh Hiền Nhân có thuyết "Tâm xấu tự hại thân như chất gỉ sét của sắt được sắt sanh ra trở lại ăn mòn sắt."  Do đó chẳng khác nào mình tự hại mình.  Chữ 'tâm' hay chữ 'mình' ở đây là tâm thật không có trí huệ để điều khiển tâm giả để gây nghiệp xấu.  Những chữ 'tự hại' ở đây là tâm giả tạo nghiệp nhân xấu để rồi phải trả quả xấu về sau.  Do đó các vị cần khuyên con em nên có thời giờ nghỉ ngơi, ngồi Thiền để có thêm phước và trí huệ, học thêm về Phật pháp để tránh những điều xấu mà tuổi nhỏ của các cháu rất hiếm khi có được cơ hội để học Phật pháp. 

         d.  Các vị nên khuyên con em đừng chơi những trò chơi hung dữ không đúng với Chánh pháp mà rất có hại: 

        Các cháu nhỏ ở Mỹ, nhất là các cháu trai, thường hay thích vui đùa với những đồ chơi súng ống, dao, gậy gộc, v.v... cho trẻ em.  Cùng với những phim hoạt họa bạo lực và những phim bạo lực, chửi thề, dâm dục cho người lớn không thích hợp cho trẻ em, các cháu chơi những trò chơi với những súng ống, dao, gậy gộc, v.v...  đồ chơi hung dữ nên tâm thức bị ô nhiễm trầm trọng.  Theo thống kê ở Mỹ thì các trường hợp trẻ em dùng súng để giết người là do xem nhiều phim ảnh bạo lực làm cho tâm thức bị kích thích, ô nhiễm.  Ngoài ra do chơi với đồ chơi súng ống nhiều nên các cháu dễ có tâm tính gắt gỏng, bướng bỉnh, làm điều xấu, khó dạy, nóng nảy, v.v...  Những tánh xấu đó sẽ làm cho các cháu thêm nghiệp xấu, bị mất phước, thọ mạng giảm, nhiều nghiệp nhân xấu để tái sanh vào trong vòng luân hồi sanh tử ở trong bốn đường ác là tam đồ và A-tu-la.  Đường quỷ đạo gồm có hai loại:  Quỷ thần A-tu-la và ngạ quỷ ở tam đồ.  Tam đồ là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.  Quỷ thần A-tu-la mặc dù được xếp trên người trong mười Pháp giới nhưng thuộc vào một trong bốn đường ác trong vòng sanh tử.  A-tu-la luôn thất bại trước những cuộc tranh đấu với chư Thiên, luôn bị mất cắp vợ đẹp và trái cây ngon do họ trồng, vẻ mặt và hình thể xấu xí, thường bị đói khát, v.v...  nên đời sống A-tu-la chẳng sung sướng gì.  Đức Phật thuyết "Mười pháp giới không ra ngoài một tâm niệm."  Nghiêp nhân của quỷ thần A-tu-la là hay nóng giận.  Nghiệp nhân khác là tuy có nhiều phước đức nhưng cũng tạo nhiều nghiệp xấu.  Khác hẳn với chư thiên là có rất nhiều phước đức nhưng không có nghiệp xấu.  Nghiệp nhân của địa ngục là tức giận cực điểm hay gây nghiệp xấu nghiêm trọng (Quang chỉ nói chung nên các vị cần đọc thêm ở Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện và những kinh nói về Nhân quả khác để biết rõ ràng hơn.)  Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện có thuyết "Chúng sanh ở cõi Diêm Phù Đề hễ dấy lên một tâm niệm thì liền tạo ra một nghiệp nhân để tái sanh trong vòng luân hồi."  Nghiệp nhân tốt hay tâm niệm tốt thì tái sanh ở cõi lành trong vòng luân hồi.  Nghiệp nhân xấu hay tâm niệm xấu thì tái sanh ở cõi xấu hay cõi dữ trong vòng luân hồi.  Kinh Hiền Nhân có thuyết "Tâm xấu tự hại thân như chất gỉ sét của sắt được sắt sanh ra trở lại ăn mòn sắt."  Do đó chẳng khác nào mình tự hại mình.  Chữ 'tâm' hay chữ 'mình' ở đây là tâm thật không có trí huệ để điều khiển tâm giả để gây nghiệp xấu.  Những chữ 'tự hại' ở đây là tâm giả tạo nghiệp nhân xấu để rồi phải trả quả xấu về sau.  Do đó các vị đừng cho con, em xem những phim hoạt hình bạo lực, phim truyện bạo lực, chửi thề, dâm dục và chơi những đồ chơi súng ống, dao, gậy gộc, v.v...  hung dữ. 

        e.  Phật pháp đi ngược với thế gian pháp, do đó mới có hai chữ tu và hành: 

        Quang chỉ nêu ra vài vấn đề tiêu biểu mà các vị có thể dễ dàng nhận thấy:  Người không tu hành tham lam, người tu hành không tham lam.  Người không tu hành không giữ giới hạnh, người tu hành giữ giới hạnh đầy đủ, tu hành càng cao thì giới hạnh càng nhiều.  Người không tu hành không biết Phật pháp nên không có Trí huệ, người tu hành biết Phật pháp nên có Trí huệ.  Người không tu hành nhiều phiền não, người tu hành giữ tâm thanh tịnh và tu Thiền định.  Người không tu hành không chịu tu hành vì sợ cực khổ, suốt ngày chỉ lo tranh danh đoạt lợi để có sự hưởng thụ giả tạo của thân giả và tâm giả, người tu hành không ngại cực khổ thân và tâm để bồi đắp thêm Công phu tu hành thêm vững chắc, chỉ trong một đời quá ngắn ngủi mà được thành tựu những Công phu tu hành và có thể được giải thoát.  Người không tu hành tham lam đủ thứ, người tu hành theo hạnh tri túc thiểu dục (là thấy ít biết đủ) và chỉ tham được giải thoát và thành một Đức Phật.  Người không tu hành suốt ngày chỉ ham bàn luận những chuyện thế gian, người tu hành chỉ nói về chuyện Phật pháp. 

        Còn tiếp



        A Di Đà Phật, sáng nay Quang phải dậy sớm để cúng dường Bề Trên và phụ em trai.  Quang chỉ nghỉ khoảng bốn tiếng nên tâm ý không được sáng suốt cho lắm.  Quang nêu ra vài lời khuyên để khuyên các vị và ngày mai Quang sẽ giải thích nhiều hơn cùng thêm những ý khác, mong các vị hoan hỉ.  Sau đây là những lời khuyên: 

        a.  Không có những bí mật trong đời sống mà chỉ có những qui định, yêu cầu hay tiêu chuẩn cho đời sống hay là sự việc nào đó:  Vài thí dụ về những gì Quang đã trải qua và đang làm hiện nay:  Những tiêu chuẩn để làm một vị Thánh:  Kính trọng Sư trưởng (trường hợp của Quang là Bề Trên), là một Tăng sĩ tốt hay là làm theo những gì Kinh điển đã dạy.  Những tiêu chuẩn để làm một Tăng sĩ:  Kính trọng Sư trưởng (trường hợp của Quang là HT.  Thích Đạo Quang rồi sau đó đến Bề Trên), được Bề Trên chấp nhận và đặt cho một Pháp hiệu, giữ gìn giới hạnh, tự độ độ tha, làm những Phật sự, v.v...  Những tiêu chuẩn để làm một Phật tử:  Quy y Tam Bảo dưới sự hướng dẫn của một vị Tăng, giữ Ngũ giới, thường đến chùa làm công quả hay là tụng Kinh, phụng sự Tam Bảo.  Những tiêu chuẩn để làm một người tu hành theo đạo Phật một cách đúng đắn:  Tôn trọng Tam Bảo, thường đọc Kinh điển và nghe Pháp, phải có cả hai mặt Tu và Hành, phải có cả hai mặt Phước Huệ song tu, giữ mười giới Thập thiện, biết về Ngũ giới và giữ Ngũ giới nếu có thể, biết về Thiền và Tịnh độ., cụ thể là pháp môn Niệm Phật và tu hành những pháp môn đó nếu có thể, biết giữ tâm ý trong sạch, bố thí và làm từ thiện, thường ăn chay và có thể ăn trường chay.  Những tiêu chuẩn để là một họa sĩ:  Biết cách diễn tả những gi` đã thấy hay đang thấy lên mặt giấy bằng một dụng cụ vẽ một cách có thẩm mỹ, biết cách chuyển đổi không gian bằng phẳng hai chiều trên mặt giấy thành không gian ba chiều để đánh lừa ảo giác và tăng trưởng thị hiếu của người xem, biết cách vẽ phác họa và vẽ bóng, thường vẽ phác họa trên tập giấy vẽ phác họa, biết về khái niệm và cách dùng màu sắc, biết những tỷ lệ, góc độ của những đường nét của đề tài đang vẽ, biết về cấu trúc bề mặt và độ sáng tối của bề mặt của đề tài đang vẽ, tranh được vẽ phải được đánh giá là một tác phẩm nghệ thuật.  Vừa rồi là những tiêu chuẩn mà Quang đã và đang trải qua, nếu thiếu một trong những tiêu chuẩn đó thì Quang hay là một người nào đó có cùng kinh nghiệm không thể được gọi với một tên gọi phù hợp được.  Như một họa sĩ mà nét vẽ nguệch ngoạc, méo mó, không theo tỷ lệ;  dùng những màu sắc tương phản với nhau không phù hợp với thị hiếu của người thưởng thức nghệ thuật;   tranh vẽ không có nội dung và hời hợt thì có thể được gọi là một họa sĩ được không?  Dĩ nhiên là không vì người này đã không có một hay nhiều hơn những tiêu chuẩn cần có của một họa sĩ. 

        Việc vẽ là do Bề Trên giới thiệu cho Quang để có một nghề kiếm sống cách nay khoảng 2 năm, nhưng Quang thực hành vẽ chỉ khoảng 2 tháng.  Quang kiếm việc vẽ vừa ý chưa được do kinh nghiệm còn yếu, Quang phụ em trai làm việc và phải làm những việc công phu tu hành và Phật sự.  Việc vẽ thì lý tưởng nếu có sơ suất gì thì chỉ bị dính vài vết mực trên tay.  Có nhiều người sanh nghề tử nghiệp như thợ điện, thợ khai thác than, người đua xe, người làm ở nhà máy hóa chất, v.v...  hoặc bị tai nạn lao động như thợ cưa, những công nhân nhà máy, v.v...  Có những thanh niên trai tráng bị người chủ hay cai thợ sai khiến làm cật lực, trao đổi nhiều sức lao động để kiếm đồng tiền ít ỏi chỉ đủ kiếm ăn qua ngày.  Quang cũng sẽ dùng nghề vẽ để làm những Phật sự được lợi ích không thể nghĩ bàn khác.  Tham ái thì vướng vào tham, sân, si là những phiền não chính.  Có đến 36 dòng ái !  Tham vẽ thì thuộc về tham xem hình ảnh.  Vẽ thuộc về lục trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp đều là giả.  Tuy nhiên như đã giải thích Quang chỉ xem vẽ như là phương tiện, nghề nghiệp và không ham mê quá mức. 

        Bề Trên cho biết "Nếu ông muốn làm một vị Tăng và một vị Thánh thì ông cần có những tiêu chuẩn của một vị Tăng và một vị Thánh.  Ông cần phải làm những điều này (là sự tu) và không nên làm những điều này (là sự hành).  Quang đã làm như thế và hơn nữa nên được Bề Trên chấp nhận là một vị Tăng và một vị Thánh

        b.  Giải thích câu thơ:  "Tu mà không học là tu mù

                                              Học mà không tu là đãy sách."  

        Các vị cần phải xem Kinh điển, nghe băng giảng Pháp, xem phim thuyết Pháp, xem phim truyện Phật giáo, xem phim hoạt hình Phật giáo thường xuyên.  Do đó các vị sẽ biết được những cách thức như thế nào để mà tu và hành. 

        Có người nói với Quang "Tôi tu tâm được rồi, cần gì phải đọc Kinh điển mới biết cách tu."  Nói như vậy thì thật là sai lầm, tâm là gì cũng không biết, thế nào gọi là tâm tốt thì không biết, thế nào gọi là tâm xấu cũng không biết.  Như vậy thì làm sao gọi là biết cách tu tâm?  Có người khác nói với Quang "Tôi làm người tốt được rồi, cần gì phải xem thêm Kinh điển."  Nói như vậy cũng sai lầm.  Thế nào là người tốt hay nói một cách khác, tiêu chuẩn của một người tốt là gì?  Tiêu chuẩn để làm một người tốt là Thập thiện.  Điều này ứng dụng chung cho tất cả mọi người.  Người nào biết và làm theo hay giữ giới Thập thiện là một người tốt.  Ngược lại là một người xấu.  Có rất nhiều người bị đọa vào tam đồ là ba đường dữ do không biết về Thập thiện, không tu hành theo Thập thiện mà ngược lại phạm phải Thập ác là ngược lại với Thập thiện. 

        Phật pháp rất chú trọng ở sự thực hành.  Nếu đọc ít Kinh điển mà tu hành theo đúng như Pháp mà Đức Phật đã dạy thì tốt hơn nhiều so với đọc nhiều Kinh điển mà không chịu tu hành. 

        c.  Giải thích những từ ngữ Phật giáo:  Phương tiện và cứu cánh:  

        Phương tiện là những cách thức tu hành khác nhau để đạt được mục đích cuối cùng là cứu cánh, thí dụ:  Bố thí, trì giới, ăn chay, phóng sanh, niệm Phật, ngồi Thiền, tĩnh tâm, làm công quả, đọc Kinh điển, sửa chữa tánh xấu, thực hành tánh tốt, nghe Pháp, tụng Kinh, làm việc từ thiện, thuyết Pháp khi đã đủ tiêu chuẩn, v.v...  Cứu cánh là mục đích giải thoát để ra khỏi vòng luân hồi sanh tử, chấm dứt tất cả mọi khổ đau. 

        d.  Giải thích những danh từ dành cho những 'người nữ' có bộ phận sinh dục của người nam 'shemale' hay là 'lady boy':  Cùng với sự nhận biết về những vị quan Thái giám mà Đại Bồ Tát Quán Thế Âm đã giúp Quang có Trí huệ để phá sự ái dục với những người nữ để giữ gìn giới phẩm cao quý.  Những từ ngữ này nghe thật lạ lùng, kỳ dị và ngộ nghĩnh.   She, Anh ngữ có nghĩa là cô ấy, male có nghĩa là phái nam, 'cô ấy phái nam' có nghĩa là thế nào?  Lady có nghĩa là quý bà, boy có nghĩa là cậu bé, 'quý bà cậu bé' có nghĩa là thế nào?  Họ đều là những người nữ có bộ phận sinh dục của người nam.  Trên thế giới có rất nhiều người như vậy đặc biệt là ở nước Ba Tây (Brazil).  Nhiều người trong số họ có thân người y hệt người nữ với những đường cong, cặp nhũ hoa cao lên như người nữ, có khác ở chỗ là bộ phận sinh dục của người nam.  Vì có thân người của một người nữ nên họ vẫn còn chấp 'Em là người nữ' và liếc mắt đưa tình, vuốt tóc, cười bẽn lẽn, e thẹn nhưng không khỏi bối rối vì bộ phận sinh dục khác người.  Có những shemale (ladyboy) có chất dâm thủy nhiều nhưng lại có chỗ đó của người nam.  Những shemale thủ dâm như người nam.  Thân, khẩu, ý của họ đều có những cảm xúc nữ, nam lẫn lộn.  Quang không biết phải gọi những shemale hay ladyboy đáng thương đó là người nữ hay người nam?  Nếu gọi là người nữ thì sao lại có chỗ đó của người nam?  Nếu gọi là người nam thì sao lại có thân người của người nữ? 

        Trường hợp của những quan Thái giám cũng vậy.  Nếu gọi là người nam sao lại nói tiếng eo éo và có những điệu bộ như người nữ?  Nếu gọi là người nữ sao họ lại có thân người của người nam?  Cho dù là người nữ hay người nam thì họ đều là những người bất hạnh có những báo thân kỳ dị ở hiện đời do nghiệp xấu đã tạo ở kiếp trước.  Như vậy là, Bồ Tát Quán Thế Âm cho biết Quang không cần phải đợi một người nam hay một người nữ mãn kiếp rồi họ tái sanh thành một người khác giới tính (nam thành nữ và ngược lại, nữ thành nam) mà ngay trong hiện đời Quang có thể thấy rõ ràng 'nam' va` 'nữ' vốn không khác nhau về giới tính, tính tình và thân thể.  Họ đều là một thể như nhau nhưng vì do lòng chấp 'anh là nam' còn 'em là nữ' nên mới có sự phân biệt.  Các vị còn nhớ Quang đã nêu là Đức Phật có thuyết trong Kinh Pháp Cú: 

        "Ai sống một trăm năm
        Không thấy Pháp tối thượng
        Tốt hơn sống một ngày
        Thấy được Pháp tối thượng."

        Các bé trai từ nhỏ đã mặc áo quần con trai, chơi đồ chơi con trai, bắt chước tánh tình của những người nam, xem phim thiếu nhi dành cho các bé trai, v.v...  và các bé gái thì ngược lại nên sự phân biệt khác nhau giữa nam và nữ đã ăn sâu vào trong tiềm thức.  Bé trai không bắt chước làm người nam và bé gái không bắt chước làm người nữ sẽ bị xem là khác người.  Thực tướng của các Pháp không phải là vậy.    

       e.  Các vị phải theo phương châm 'Tự lợi lợi tha' 'Tự độ độ tha' là 'Tự làm lợi cho mình và làm lợi cho những người khác' và 'Tự độ mình (là tu hành cho mình) và độ người khác (sau khi công phu tu hành của các vị đã thành tựu vững vàng thì có thể giúp đỡ những người khác tu hành'.  Mệnh đề 'Tự lợi lợi tha' mang tính chất thế gian nhiều hơn.  Mệnh đề 'Tự độ độ tha' mang nhiều tính chất xuất thế gian, là phương châm tu hành của những hành giả Phật giáo Đại thừa, là phương châm của Bồ Tát hạnh.  Hai mặt của những mệnh đề đó phải là cân bằng, hợp lý:  Ngoài việc làm lợi cho những người khác các vị cần phải dành thời gian làm lợi cho các vị, có thực mới vực được Đạo, ngoài việc độ cho những người khác các vị cần phải dành thời gian để độ cho các vị.  Thí dụ:  Quang làm việc kiếm tiền để trả tiền mướn những trang web Phật giáo, cúng dường Bề Trên và làm những việc Phật sự.  Quang phải niệm Phật thật nhiều cho đủ 10,000 danh hiệu Phật trong một ngày ngoài việc suy nghĩ để nói Pháp hướng dẫn các vị và làm những việc Phật sự khác. 

        g.  Hệ thống niệm Phật thành Phật là hệ thống hoàn hảo nhất trong toàn vũ trụ:  Định nghĩa từ ngữ 'hệ thống':  Một nhóm của những phần tử riêng biệt, hòa hợp với nhau, hoạt động cùng nhau để hình thành một toàn thể phức tạp chung.  Vài thí dụ:  Hệ thống mặt trời hay hệ mặt trời (the solar system) gồm có những hành tinh nhỏ như trái đất, sao hỏa, sao kim, sao mộc, v.v...  xoay xung quanh.  Hệ thống máy vi tính gồm có phần mềm (software), phần cứng (hardware), bộ não của máy vi tính CPU (Central Processing Unit), bộ nhớ máy vi tính RAM (Random Access Memory), v.v...  Trong hệ thống phần mềm lại có những hệ thống nhỏ hơn là hệ thống phần mềm thao tác máy vi tính (operating system software như Windows, DOS (Disk Operating System), UNIX, v.v...) và hệ thống phần mềm ứng dụng dùng cho học hành, giải trí, công việc, v.v...  (application software).  Những hệ thống trong cơ thể con người (hệ tuần hoàn, hệ thần kinh, hệ hô hấp, hệ tiêu hóa, hệ bài tiết).  Những hệ thống ngành nghề như hệ thống làm móng tay, chân, hệ thống âm nhạc, hệ thống hãng xưởng, hệ thống mở cửa tiệm, hệ thống nông sản, lâm sản, hải sản, v.v...  Những hệ thống ngoài xã hội như hệ thống tài chánh, hệ thống giáo dục, hệ thống an ninh, hệ thống ngành nghề, v.v...  và rất nhiều hệ thống khác nữa mà các vị biết.  Hệ thống pháp môn niệm Phật là hệ thống niệm Phật để thành Phật do Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni thuyết.  Nói chung, niệm Phật A Di Đà là nhân và thành Phật là quả.  Hệ thống niệm Phật thành Phật là hệ thống hoàn hảo nhất trong toàn vũ trụ.  Vì sao?  Vì đây là hệ thống duy nhất trong toàn vũ trụ mà nếu một chúng sanh hữu tình nào biết thực hành, chịu thực hành thì sẽ thành Phật ngay trong hiện đời, với thời gian tối thiểu chỉ có hai năm trong nhiều trường hợp theo thống kê của cư sĩ Tịnh Hải.  Cũng có không ít trường hợp quý vị chỉ cần niệm mười niệm Phật hiệu của Đức Phật A Di Đà một cách chí thành và nhất tâm thì quý vị có thể được Vãng sanh theo Kinh A Di Đà.  Kinh Niệm Phật Ba-la-mật có thuyết "Vãng sanh đồng nghĩa với thành Phật", vì sao?  Vì khi vãng sanh lên cõi Đức Phật A Di Đà rồi thì chỉ toàn gặp những bậc Thượng thiện nhơn, không bị nghịch duyên gì cả cản trở sự tu hành, chỉ gặp toàn thuận duyên cho sự tu hành, từ đó tu hành thẳng tiến cho đến khi thành Phật.  Như bùn, đá, sỏi đã lắng sâu xuống đáy nước không còn khuấy động gì nữa thì nước trong vẫn là nước trong, không khác gì nước nguyên chất.)  Bùn, đá, sỏi dụ cho phiền não, phân biệt, chấp trước của tâm, nước trong dụ cho tâm thanh tịnh, sự không khuấy động của nước dụ cho thuận duyên.  Nếu muốn giải thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử qua con đường xuất gia thì phải trải qua ba đại A-tăng-kỳ kiếp, là vô số kiếp lao nhọc tu hành. 

        h.  Các vị đừng bao giờ nản chí trên bước đường tu hành:  Kinh Bốn Mươi Hai Chương, ở chương 27 có ghi: 

Không Chấp Trước Tất Đắc Đạo

        Đức Phật dạy: "Người hành Đạo ví như khúc gỗ dưới nước, theo dòng mà trôi. Nếu nó chẳng tấp vào hai bên bờ, chẳng bị người ta vớt lấy, chẳng bị quỷ thần ngăn trở, chẳng bị nước xoáy giữ lại, cũng chẳng bị mục nát, Ta cam đoan rằng khúc gỗ này nhất định sẽ ra đến biển. Người học Đạo nếu chẳng bị tình dục làm mê hoặc, chẳng bị các thứ tà vạy quấy nhiễu, lại tinh tấn tu pháp Vô-vi; Ta cam đoan rằng người này tất sẽ đắc Đạo."  Pháp Vô-vi là những pháp không có sinh ra, do đó không có mất đi.  Một thí dụ của pháp Vô-vi là như một bậc Thánh A-la-hán không còn tái sanh trở lại vòng luân hồi sanh tử, do đó sẽ không bao giờ trải qua chu kỳ sanh, già, bệnh, chết hay mới sanh ra bị thiếu thở rồi chết.  Do vậy
các vị đừng bao giờ nản chí trên bước đường tu hành. 

        i.  Pháp môn niệm Phật đưa các vị về với Cha Mẹ muôn đời muôn kiếp của các vị là chư Phật:  Kinh Lăng Nghiêm có ghi:  "Chư Phật thương chúng sanh như Cha Mẹ thương nhớ con.  Nếu con (là ý nói chúng sanh) không nghĩ nhớ đến Cha Mẹ thì dầu có thương cũng chẳng giúp ích được gì.  Ngược lại nếu con luôn nghĩ nhớ đến Cha Mẹ như Cha Mẹ nghĩ nhớ con thì đời đời (Cha) Mẹ (và) con luôn gần nhau chẳng cách xa nhau."   Ở thế gian Cha Mẹ của các vị là những người yêu thương các vị nhiều nhất, có công với các vị nhiều nhất.  Tuy nhiên Cha Mẹ hiện đời chỉ có thể gần gũi các vị khoảng một kiếp, kiếp sau các vị lại có Cha Mẹ mới.  Chư Phật nói chung và Đức Phật A Di Đà nói riêng luôn thương nhớ, giúp đỡ các vị trong nhiều đời nhiều kiếp.  Nếu các vị tu hành theo pháp môn Niệm Phật bằng cách thường luôn niệm Phật là các vị đã luôn nhớ nghĩ đến Đức Phật A Di Đà, Ngài sẽ phóng quang để giúp đỡ các vị tu hành được tốt hơn.  Khi các vị Vãng sanh là các vị có thể luôn được gần gũi Đức Phật A Di Đà và nghe Ngài thuyết Pháp.  Theo Kinh A Di Đà thì ở trong cõi Cực Lạc, các vị làm Phật sự hàng ngày bằng cách mỗi buổi sáng hái hoa đem cúng dường chư Phật ở khắp mười phương.  Do đó các vị có thể gần gũi được với Cha Mẹ muôn đời muôn kiếp của các vị. 

        k.  Có những ngành khoa học khác nhau như ngành khoa học bói toán, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học tâm linh và khoa học Phật giáo, khoa học Phật giáo là bậc nhất, hoàn thiện nhất, đáng tin tưởng nhất và cao cả nhất:  Khoa học bói toán thường dùng những cách thức tự chế để lừa bịp những người mê tín dị đoan nhằm kiếm tiền.  Vài thí dụ của khoa học bói toán:  Xem chữ ký, bói chỉ tay, bói quẻ, xem tướng để đoán vận mạng, xem hình thức sinh hoạt để đoán vận mạng, kinh dịch, đồng bóng, bói bài, phong thủy (feng shui), nhìn chòm sao (28 vì tinh tú hay Nhị thập bát tú) để đoán vận mạng, v.v...  Ngoài phong thủy và sự nhìn chòm sao ra thì những cách bói toán còn lại đều là nói dối, đoán mò để phỉnh gạt những người mê tín dị đoan.  Những bậc tu hành cao như Quang không còn bị ảnh hưởng bởi phong thủy và sự nhìn chòm sao mà chỉ ảnh hưởng bởi luật Nhân Quả.  Do đó ngành bói toán không đáng tin tưởng.  Vài thí dụ của khoa học tự nhiên:  Các ngành học toán, lý, hóa, sinh vật, điện tử, vi tính, v.v...  Khoa học tự nhiên còn chưa giải thích được nhiều hiện tượng thiên nhiên của trái đất chứ chưa nói đến nhiều hiện tượng thiên nhiên ở ngoài trái đất, sự tiến bộ của ngành này còn quá chậm so với những gì Đức Phật Bổn Sư đã tuyên thuyết cách nay 25 thế kỷ.  Vài thí dụ của khoa học xã hội:  Văn chương, lịch sử, địa lý, v.v...  Những sự kiện lịch sử đều theo thời gian mà xảy ra rồi phai tàn, như cây nhan được đốt khói tỏa ra nghi ngút và có hương thơm tỏa ra.  Đến khi cây nhan cháy hết, hương thơm còn phảng phất một hồi rồi cũng không còn.  Vài thí dụ của khoa học tâm linh:  Là các tôn giáo lớn trên thế giới như Thiên Chúa giáo, Tin lành, Hồi giáo, Lão giáo hay Nho giáo, v.v...  Theo Phật giáo họ đều là những ngoại đạo và chúng ta nên tôn trọng họ.  Ngoại đạo khác với tà đạo, tà đạo có thể gây những tội ác, cực kỳ mê tín dị đoan và vi phạm luật pháp xã hội, ngoại đạo không vi phạm luật pháp xã hội.  Giáo pháp của tất cả các ngoại đạo tuy đúng nhưng còn có chỗ sai và hãy còn là bậc thấp vì tất cả các giáo chủ của họ hãy còn là những chúng sanh chưa ra khỏi vòng luân hồi sanh tử.  Họ không có pháp môn siêu phàm nhập Thánh và pháp môn niệm Phật thành Phật của Phật giáo.  Khoa học Phật giáo là bậc nhất, hoàn thiện nhất, đáng tin tưởng nhất cao cả nhất:  Lý do Quang để Phật giáo riêng biệt với khoa học tâm linh là vì theo HT. Tịnh Không thì Phật giáo là giáo dục, không phải là tôn giáo.  Có quá nhiều điều căn bản tuyệt đối quan trọng mà Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni đã thuyết mà đại đa số loài người chẳng hề hay biết gì cả. 

        l.  Tóm tắt những con đường tu hành phù hợp cho tất cả các vị ở vị trí tiến triển tâm linh hiện thời của các vị:  Các vị có thể tu phước để có phước đức, tu huệ để có công đức và tu hành theo pháp môn niệm Phật để được Vãng sanh.  Các vị cần nên có Phước Huệ song tu và Thiền Tịnh song tu.  Những thành quả đạt được của những sự tu hành đó đều là những công phu tu hành.  Các vị nên quy y Tam Bảo để trở thành Phật tử vì quy y Tam Bảo là việc lớn nhất trên đời theo bài giảng của HT.  Tuyên Hóa.  Các vị cần tu hành theo pháp môn niệm Phật vì đó là việc nên làm nhất trên đời theo một bộ phim Phật giáo với tựa đề "Việc nên làm nhất trên đời" do Đài Loan sản xuất.   

        m.  Nếu không tu hành theo pháp môn niệm Phật mà các vị chỉ tu hành theo Phật giáo thì nên tu hành đầy đủ theo các hạnh, không nên bỏ những hạnh tu hành:  Nếu các vị tu phước mà không tu huệ thì đời sau các vị sẽ giàu có mà không thông minh.  Ngược lại nếu các vị tu huệ mà không tu phước thì đời sau các vị thông minh trí huệ mà bị nghèo đói.   Nếu các vị tu Thiền mà không tu niệm Phật thì các vị sẽ rất khó giải thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử, nếu các vị tu niệm Phật mà không tu Thiền phần nào thì sự niệm Phật của các vị bị tán loạn không nhất tâm. 

        n.  Giải thích bốn câu thơ của HT.  Tuyên Hóa: 

        "Xả bất liễu tử,

        hoán bất liễu sinh.

        Xả  ất liễu giả,

       thành bất liễu chân."

        Chuyển ngữ là: 

        "Vất không đặng cái chết,

        đổi không đặng cái sống.

        Bỏ không đặng cái giả,

        thành không đặng cái thật." 

        Cái chết, cái giả là tâm giả và thân giả của các vị không làm theo những gì Đức Phật khuyên các vị cần sửa chữa trong Kinh điển.  Cái sống, cái thật là tâm thật, còn gọi là Pháp thân hay Phật tánh.  Phật tánh là cái duy nhất mà các vị sở hữu từ kiếp này sang kiếp khác.  Phật tánh mang theo những nghiệp xấu và những nghiệp tốt mà các vị đã tạo sang kiếp khác.  Phật tánh là viên ngọc quý và sáng mà bất cứ ai đều có mà không biết cách dùng.  Nếu ham tranh danh, đoạt lợi ở đời, lo hưởng thụ cho tâm giả và thân giả mà không biết dùng viên ngọc quý để tu hành tạo ra nhiều phước đức, công đức công phu tu hành niệm Phật thì mọi thành đạt ở đời đều là dã tràng se cát. 

        o.  Các vị cần nên biết cách dùng tâm cho đúng:  Nếu các vị dùng tâm đúng thì tâm của các vị là vợ của các vị, vì sao?  Vì Pháp thân, tâm thật hay Phật tánh là nơi cất giữ những gì các vị tu hành được, như người vợ cất giữ tài sản cho chồng;  là Thầy của các vị, vì sao?  Vì khi dùng tâm đúng thì các vị sẽ không phá Giới hạnh của các vị, do đó các vị sẽ được Định, do được Định nên tâm của các vị sẽ phát sanh Trí huệ, Giới Định Huệ là Tam vô lậu học rất cần thiết cho người tu hành;  và bạn hữu của các vị vì biết giúp đỡ các vị.  Ngược lại nếu các vị không biết dùng tâm, dùng tâm sai thì tâm của các vị là bạn xấu, kẻ thù của các vị:  Trong Mười bốn điều răn của Phật, Đức Phật có thuyết "Kẻ thù lớn nhất là chính mình." 

        p.  Vài điều cảnh tỉnh rất chân thật và tuyệt đối cần thiết từ HT. Tuyên Hóa và Đức Phật Bổn Sư mà các vị cần nên ghi nhớ, cảnh tỉnh rồi chân thật tu hành.  Sau đây là hai đoạn văn trích giảng của HT. Tuyên Hóa:

        "Hiện tại, mọi người ở đây để tâm nghiên cứu chú Lăng Nghiêm, mới biết quỷ cũng có muôn ngàn khác nhau, đủ hình đủ dáng, chúng nó đều là do cảm quả thọ báo, tùy theo loại mà hiện. Trong chú Lăng Nghiêm có nêu danh nhiều vị vua của quỷ thần, trong đó có quỷ Dạ Xoa, quỷ La Sát, quỷ giữ hồn, quỷ giữ thi, quỷ Tỳ Xá (quỷ hớp tinh khí), quỷ Cưu Bàn Trà (quỷ làm người tê liệt, hay còn gọi là bóng đè, ma đè), quỷ Ðại Thân, quỷ Ðiên, quỷ Xú, quỷ Phú Ðan Na (quỷ có mùi hôi độc), quỷ Nhiệt, quỷ Hàn, quỷ Ảnh, quỷ Âm Nhạc..., ngoài ra có quỷ ăn hoa, quỷ ăn sanh sản, quỷ ăn thai, quỷ ăn hài nhi, quỷ ăn mỡ, quỷ ăn đèn, quỷ ăn ngũ cốc... Sự biến hóa của chúng vô cùng vô tận, vô lượng vô biên.

        Khi chưa nghe chú Lăng Nghiêm, không biết quỷ có nhiều như thế. Sau khi nghe rồi mới biết rất có nhiều giống loại. Ðương nhiên, quỷ so với người thì đông hơn. Người tạo nghiệp tội, bị đọa xuống làm quỷ, không thể tự thoát khỏi được. Khi Phật còn tại thế, có lần hốt nắm đất hỏi đệ tử: "Các ông xem đất trên bàn tay ta nhiều, hay đất trên đại lục nầy nhiều?" Ðệ tử thưa: "Ðương nhiên đất trên đại lục nhiều, dĩ nhiên là đất trên bàn tay Thế Tôn rất ít". Thế Tôn nói: "Làm được thân người như đất trong bàn tay, mất thân người như đất trong đại lục!" Làm mất thân người như đất trên đại lục, vậy thời khi mất thân người, đi làm gì vậy? Ðương nhiên là làm quỷ! Còn hỏi gì nữa? Cho nên quỷ so với người đông hơn, dùng điện não (computer) thống kê cũng tính không nổi, trừ phi dùng thần não. Thần não còn gọi là thiên não. Có người nói: "Bao giờ thầy sáng chế ra thiên não đây?" Không phải tôi phát minh. Quý vị không tin, cố gắng lên trời xem thử tốt hơn. Thiên não tự nhiên có, luôn luôn tồn tại. Loại thiên não nầy không cần người quản lý, không dùng tay ấn xuống keyboard. Khi quý vị muốn biết, chỉ cần một ý niệm, tự nhiên tính xong rồi, một tơ hào không sai trật. Tâm quý vị nghĩ thế nào, nó biết ngay. Bởi nó huyền diệu thông linh nên gọi là "THẦN". Nhưng số lượng của quỷ e rằng thần não tính cũng không xuể, bởi quá nhiều. Vừa mới tính xong, nó tăng lên hàng ngàn hàng trăm triệu. Sau một giây gia tăng thêm hàng ngàn trăm triệu nữa, cho nên không cách nào tính chính xác. Hơn nữa, bởi quỷ có thể hốt nhiên lên trời, hốt nhiên xuống đất, nên không có cách nào đếm chính xác được."

        Những lời giảng của Đại Sư Tuyên Hóa là có thật, những lời thuyết của Đức Bổn Sư cũng có thật, các Ngài biết rõ Nhân Quả và tôn trọng Nhân Quả nên không một chút nói dối.  Huệ Quang cũng noi gương các Ngài, không một chút nói dối khi nói Pháp, giảng Pháp.  Các vị thấy cuộc đời có khổ không?  Dĩ nhiên là rất khổ vì nếu không thì ai ai trong chúng ta đều không phải sanh ra ở cõi này để trả nghiệp, nếu không Đức Bồ Tát Tất-Đạt-Đa không từ cõi trời Đâu Suất thị hiện xuống đây, sanh ra làm hoàng tử ở Ấn Độ cách nay khoảng 2,500 năm để sau đó thuyết Pháp độ sanh.  Cùng với mười giới Thập Thiện nếu vi phạm sẽ thành Thập Ác tùy theo phạm phải nhiều ít, đối với bậc tu hành nào rồi thành ra hạ phẩm Thập Ác, trung phẩm Thập Ác thượng phẩm Thập Ác rồi đưa chúng sanh vào Tam ác đạo hay Tam đồDo đó các vị phải nên hết sức cẩn thận.  Các vị phải nên phát Bồ Đề Tâm, tốt nhất là phát nguyện Vãng sanh và tinh tấn tu hành, tốt nhất là tu hành niệm Phật để được Vãng sanh ngay trong đời này.  Do đó các vị không còn phải lo sợ về những gì Quang đã nhắc nhở, HT. Tuyên Hóa đã giảng và Đức Phật đã thuyết.  Tuy những điều trên đều là sự thật nhưng các vị đừng nên kiêu ngạo, khinh thường mọi người mà bị rắc rối.  Các vị nên niệm Phật để tạo thêm những chủng tử, nhân duyên niệm Phật đến tất cả mọi người.  Sau này họ cũng bắt gặp pháp môn Niệm Phật để tu hành và giải thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử như các vị. 

        Trên đây là một số những điều tâm đắc của Quang khi tu hành, một số những điều đó là bí quyết tu hành của Quang vì nếu Quang không nói thì cũng chẳng ai biết, những điều mà Quang được thêm rất nhiều công đức mà Bề Trên đã hiện vô số mây đẹp ở trên nền trời^^, những điều mà Quang đã được Đức Phật hay Bồ Tát hoan hỉ xoa đầu khen ngợi để hướng dẫn các vị trên đường đời cũng như trên đường tu hành.  Mong các vị đón xem, A Di Đà Phật.   



     

        Quang thêm mục này để nhắc nhở các vị, có các vị nữ ở trang Tamtay, để các vị không bị nghiệp xấu.  Khi Tu Hành các vị phải chú trọng cả hai mặt Tu và Hành như khi quý vị chú trọng cả hai mặt Phước Huệ song tu và Thiền Tịnh song tu vậy.  Tu là làm theo những điều tốt mà Đức Phật đã thuyết trong Kinh điển, hành là bỏ đi những tật xấu, đừng làm những điều xấu mà Đức Phật đã khuyên trong Kinh điển.  Nếu các vị Tu mà không Hành thì các vị có thiếu sót, ngược lại các vị Hành mà không Tu thì các vị cũng thiếu sót.  Như vậy không phải là chân thật tu hành và tu hành như vậy sẽ không có kết quả.  Như khi các vị muốn bơm không khí H2 (hóa chất Hydro hay Hydrogen) hay không khí nhẹ gì đó vào một bong bóng khinh khí cầu nhiều màu sắc để nó bay lên chở các vị đi du ngoạn trên không.  Các vị muốn bơm bong bóng khinh khí cầu cho lẹ mà không bị xẹp thì các vị phải tìm và vá tất cả các lỗ kim (còn gọi là lỗ nhỏ, dụ cho nghiệp xấu nhỏ), các lỗ trung hay lỗ vừa (dụ cho nghiệp xấu vừa) và các lỗ lớn (dụ cho nghiệp xấu lớn).  Nếu còn lỗ kim thì khinh khí cầu sẽ không bay được xa, đến lúc nào đó nó sẽ hạ xuống mặt đất, nếu còn lỗ vừa thì các vị sẽ tốn rất nhiều công sức và thời gian để bơm khinh khí cầu cho đầy và nếu còn lỗ lớn thì khinh khí cầu sẽ luôn luôn xẹp không tài nào bơm lên được.  Sự bơm không khí Hydrogen vào khinh khí cầu dụ cho sự Tu của các vị, sự tìm kiếm và vá các lỗ kim, vừa, lớn dụ cho sự Hành của các vị, bong bóng khinh khí cầu nhiều màu sắc rực rỡ chở các vị du ngoạn đây đó dụ cho sự thành đạt của sự tu hành của các vị. 

        Các vị đã biết về Tu, có lẽ các vị chưa biết một số điều về Hành.  Quang sẽ nêu ra những điều đó để các vị đề phòng và sửa chữa để các vị không bị những nghiệp xấu về sau.  Sau đây là những điều các vị cần sữa chữa.  Các vị nhớ sửa chữa để không bị nghiệp xấu.  Như khi trồng khế thì cây khế sẽ mọc lên với những trái khế rất chua, như khi trồng ớt thì cây ớt sẽ mọc lên với những trái ớt rất cay.  Quang không muốn những điều đó xảy ra cho học trò của Quang cho dù người đó là người học Phật pháp trên mạng: 

        a.  Có một vài vị muốn cưới Quang:  Câu trả lời chung là Quang sẽ không cưới bất cứ ai.  Quang cũng không có bất cứ bạn gái nào.  Tất cả mọi quan hệ của Quang với tất cả các vị đều là quan hệ giữa Thầy và trò không hơn không kém. 

        b.  Có một vài vị muốn có chuyện đó với Quang:  Câu trả lời chung là Quang sẽ không có chuyện đó với các vị.  Thiện tai !  Thiện tai ! 

        c.  Các vị thật sự là Cha Mẹ của Quang ở một trong những kiếp trước.  Tuy nhiên các vị đừng nên lúc nào cũng nghĩ về Quang như con hiện đời của các vị mà chỉ nên nghĩ về Quang khoảng tối đa 10 phút một ngày thôi.  Lý do là các vị nữ dễ sai lệch về tình Mẹ và quan hệ tình cảm nam nữ. 

        d.  Về trang phục các vị nữ nên tránh mặc những trang phục có ý về ái tình như màu xanh dương (nhất là mà xanh dương đậm) mà nên mặc áo màu lam thay cho màu xanh dương, màu đỏ thân thiết (ngoại trừ trường hợp màu đỏ với ý ngợi khen và tôn trọng bậc tu hành) và ái dục như áo quần hở hang khêu gợi dục tình.  Các vị chỉ nên mặc áo quần màu cam (ý là tôn trọng Tăng sĩ xuất sắc và bậc Thánh tu hành), màu vàng (ý là tăng sĩ ở cương vị Sa-di hay người tu hành Phật giáo), màu đỏ, màu trắng (ý là người tu hành trong sạch liêm khiết, hay có Trí huệ hơn người, hay người tu phạm hạnh không tà dâm, hay người tu hành niệm Phật giỏi, hay người nói Pháp hay, hay quan hệ giữa vị đó và Quang chỉ là quan hệ Thầy trò hay giữa Thiện tri thức và người theo học Phật pháp, nếu các vị bận màu trắng với ý đây là bậc tu hành đáng cúng dường chứ đừng có ý hứa cúng dường rồi thất hứa thì không nên), màu hồng (vị đó thấy Quang là bậc tu hành tự tại tương lai tươi sáng hay vị đó ưa thích pháp môn niệm Phật và sẽ tu hành niệm Phật.), màu xám hay màu bạc với ý đây là bậc tu hành đáng cúng dường chứ đừng có ý hứa cúng dường rồi thất hứa thì không nên.  Các vị có thể bận áo dài có nửa vòng tròn trước ngực có ý là Quang là bậc tu hành có hào quang.  Các vị có thể đeo mắt kiến đen có ý là các vị hiểu Phật pháp tuy khác xa với thế gian pháp nhưng đều là có thật vì được giảng giải một cách hợp lý, dễ hiểu.  Các vị có thể đội nón màu đỏ, màu hồng, màu vàng lạt hay màu trắng có ý nói các vị là người đang theo học Phật pháp. 

        e.  Các vị chỉ nên bận áo quần, trang điểm tóc, v.v...  với ý đây là bậc tu hành đáng cúng dường chứ đừng có ý hứa cúng dường rồi thất hứa thì không nên. 

        g.  Các vị đừng lúc nào cũng nhớ Quang, suy nghĩ về Quang như là 'bạn trai' mà rất tai hại.  Thiện tai !  Thiện tai !  Các vị nên xem lại các bài viết nói về TìnhTưởng trích trong những Kinh Niệm Phật Ba-la-mậtKinh Thủ Lăng NghiêmTình là tình cảm nam nữ, tưởng là Trí huệ Bát nhã hay Trí huệ.  Tình thì không đúng với thực tướng của các Pháp vì người nam và người nữ không phải kiếp nào cũng cố định là người nam và người nữ, tưởng thì đúng với thực tướng của các Pháp vì người nam và người nữ sẽ chuyển đổi giới tính ở những kiếp khác nhau.  Tình là đi xuống trên bước đường tu hành, tưởng là đi lên trên bước đường tu hành.  Tình là đi vào bóng tối vô minh, tưởng là đi ra ánh sáng Trí Huệ.  Tình là nẻo vào vòng luân hồi sanh tử vì vợ chồng sở hữu nhau, sở hữu con cái, sở hữu tài sản trái với thuyết 12 Nhân Duyên nên bị đọa luân hồi, vợ chồng vì quyến luyến nhau rồi hứa hẹn đời đời kiếp kiếp bên nhau nên bị đọa luân hồi, v.v...  (trong phạm vi bài nói Pháp này Quang chỉ nói sơ chứ còn nhiều lý do khác), tưởng là đường ra giải thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử.  Tình là ý nghĩ tình cảm sai lầm, tưởng là xử lý một cách có lý trí bằng Trí huệ.  Tình là mê vọng, tưởng là tỉnh thức.  Trai lớn lên thì phải có 'vợ', gái lớn lên thì phải gả 'chồng', sau khi chung sống thì hai người có 'con', đó là chuyện bình thường ở thế gian.  Dù sao Quang đã giảng giải cho các vị biết 'vợ', 'chồng' và 'con' là những ai và do nhân duyên nào nên mới gặp nhau ở kiếp này.  Tình cảm nam nữ là chuyện bình thường ở thế gian, đối với bậc tu hành có Trí Huệ thì cần phải có tầm nhìn xa rộng không thiển cận nếu không muốn bị chư Thiên chê cười, chuyện tình cảm Bề Trên tuyệt đối ngăn cấm.  Tình là mây xám, mây đen xấu xí che khuất ánh nắng mặt trời, tưởng là ánh nắng mặt trời chiếu rọi khắp nơi xóa tan những đám mây tăm tối đó và trên nền trời chỉ còn lại một vài đám mây trắng đẹp tượng trưng cho Trí Huệ.  Tuy các vị hãy còn là hàng sơ cơ học Phật nhưng Quang cũng hoan hỉ giảng giải để các vị hiểu.  Lành thay !  Lành thay !  Với Quang, nếu còn tình sẽ bị Bề Trên chê là học Phật mà không có Trí Huệ, nếu có tưởng thì sẽ được Bề Trên hoan hỉ ngợi khen.  Lành thay !  Lành thay ! 

        Nếu các vị không biết ngăn ngừa những sai lầm mà các vị chưa biết hay biết mà các vị cứ tái phạm thì những nghiệp xấu ngấm ngầm đó sẽ rất tai hại cho các vị sau này.  Thiện tai !  Thiện tai !  Như khi các vị thấy vây con cá mập trồi lên ở ngoài khơi xa thì các vị phảì lập tức bơi vô bờ liền.  Nếu các vị ỷ y đợi nó đến gần thì đã quá trễ.  Tốt nhất là các vị không nên bơi ở những vùng biển có để bảng cấm 'Nguy hiểm, cá mập !'  Nghiệp xấu mà các vị không biết hay biết mà cứ tái phạm như những cục than cháy âm ỉ trong tàn tro, tưởng rằng than đã tắt nhưng nó vẫn còn đang cháy và có thể cháy bùng lên bất cứ lúc nào. 




        Mới:  Mười bốn lời khuyên đến các vị ở trường Đại học Nguyễn Tất Thành được đăng ở trên.  Quang sửa màu xanh dương lợt thành màu xanh dương đậm để các vị xem những bài giảng không bị đau mắt và hiểu được dễ dàng hơn.  Quang sửa màu để các vị dễ đọc chứ không có ý tình cảm gì. 

        Mới:  Những lời khuyên cho các vị ở trường Đại học Nguyễn Tất Thành, phần 2 và hết: 

        a.  Theo những lời cảnh tỉnh của HT. Tuyên Hóa và Đức Phật ở câu 14, phần 1 thì để tránh bị đọa làm loài quỷ và lỡ mất thân người rất khó kiếm lại được thì các vị cần phải làm một trong hai điều sau đây hoặc cả hai điều càng tốt: 

        a1.  Các vị phải quy y Tam Bảo để trở thành Phật tử và giữ gìn Ngũ giới ngay lập tức.  Ngũ giới là:  a.  Không sát sanh, b.  Không trộm cắp, c.  Không tà dâm, d.  Không nói dối và e.  Không uống rượu.  Đức Phật thuyết là ai trở thành Phật tử để giữ được Ngũ giới thì kiếp sau sẽ sanh trở lại làm người.  Những ai là Phật tử khá thì việc giữ gìn Ngũ giới không có khó khăn. 

        a2.  Các vị cần phải bắt đầu tu hành theo pháp môn Niệm Phật ngay lập tức.  Trong quyển Đại Tập Nguyệt Tạng kinh có ghi:  "Mạt pháp ức ức nhơn tu hành, hãn nhứt đắc đạo.  Chỉ y niệm Phật pháp môn, đắc liễu sanh tử."  Chuyển ngữ là:  "Trong đời mạt pháp, tuy có vô số người tu hành, song ít có người nào được đắc đạo, duy chỉ nương theo pháp môn Niệm Phật mà thoát khỏi luân hồi." 

        b.  Đời nhà Đường bên Trung Quốc có nhà thơ rất nổi tiếng là thi hào Bạch Cư Dị tự là Bạch Lạc Thiên.  Ngày nay khi nói đến Bạch Cư Dị thì có nhiều người biết vì thi hào làm thơ rất nổi tiếng.  Nhà thơ thi đậu tiến sĩ rồi được vua phong làm quan lớn.  Sau vì phạm tội nên nhà thơ bị rớt chức làm quan Tư Mã ở đất Giang Châu.  Sau nhà thơ Bạch Cư Dị được vua Đường triệu về cho làm quan đến chức Hình Bộ Thượng Thơ (tương tự như chức Bộ Trưởng Tư Pháp ngày nay).  Thi hào làm thơ rất hay, lời thơ đẹp, ý thơ cao xa mà lại rất bình dị dễ hiểu, đàn bà con gái ít học đọc cũng hiểu được.  Thiên hạ lúc bấy giờ tranh nhau chép và học thơ của Bạch Cư Dị.  Có những người ham lợi bán thơ thi hào để lấy lời, cứ một bài thơ thì bán hoặc đổi được một lượng vàng. 

        Lúc về già Bạch Cư Dị về ẩn cư ở vùng núi Hương Sơn, xưng hiệu là Hương Sơn Cư sĩ.  Cư sĩ là tên gọi khác của Phật tử.  Trên phương diện đạo học thì: 

         b1.  Khi còn là một Nho gia chưa hiểu đạo Phật thì Cư sĩ phát tâm tu theo đạo Tiên về chốn Bồng Lai Tiên cảnh.  Một người phải tu hành có rất nhiều phước mới có thể được sanh về chốn Bồng Lai. 

         b2.  Sau khi nghiên cứu Phật pháp, Cư sĩ thấy Bồng lai Tiên cảnh không bằng cõi trời thứ tư là Đâu Suất Thiên cung (nơi HT. Hư Vân sanh về và là nơi Bồ-Tát Di Lặc đang thuyết Pháp) nên bỏ ý định thành tiên ở chốn Bồng Lai và phát nguyện sanh về Đâu Suất Thiên cung.  Một người phải tu hành có phước báu vô lượng mới được sanh về cõi trời Đâu Suất.  Nhà thơ đã bày tỏ ý chí ấy qua hai câu thơ: 

        "Hải Sơn bất thị ngô quy xứ

        Quy tắc tu quy Đâu Suất thiên."  Chuyển ngữ là: 

        "Bồng Lai không phải chỗ ta về

        Ta nay nguyện sanh Đâu Suất thiên." 

       b3.  Sau cùng, càng nghiên cứu sâu thêm vào trong Phật pháp, nhà thơ mới nhận thấy rằng:  Cõi Trời Đâu Suất thì khó sanh về mà lại rất dễ bị lạc bước như chư Thiên ở tầng trời này mê đắm theo ngũ dục.  Hơn nữa Y báo và Chánh báo của cõi trời Đâu Suất không sao so sánh nổi với cõi Cực Lạc (Những ai được Vãng sanh đều là những người có vô lượng phước báu, nhân duyên.  Khi về cõi đó thì đồng nghĩa với sự thành một Đức PHẬT theo kinh Niệm Phật Ba-la-mật.  Vì sao?  Vì khi hành giả niệm Phật vãng sanh về cõi đó sẽ gặp toàn thuận duyên, không có bất cứ nghịch duyên nào cả trên bước đường tu tiếp để thành một Đức PHẬT.)  Vì vậy Cư sĩ mới phát nguyện Vãng sanh và tu hành theo pháp môn Niệm Phật.  Nhà thơ rất nổi tiếng, lỗi lạc như Bạch Cư Dị, một người có tầm cỡ đã đậu Tiến sĩ, hai lần làm Quan lớn và rất thực tế mà còn phải phát nguyện Vãng sanh để sanh về cõi Cực Lạc thì dĩ nhiên sự tu hành niệm Phật quyết chẳng phải là điều sai lầm.  Do đó các vị nên noi theo gương thi hào Bạch Cư Dị mà phát nguyện Vãng sanh càng sớm càng tốt.  Vô thường có thể xảy ra bất cứ lúc nào vì không ai có thể nói ngày mai tôi còn có thể sống sót.  Nếu lỡ để mất thân người mà các vị đang có thì thật là đáng tiếc vô cùng.  Một số vị như Giao Linh, Hoàn Thiện, Kim Oanh, Khánh Vân, Ý Nhi, Phương Thảo, Ngọc Huyền và những vị khác có thể ghi danh làm Phật tử của Quang ở hộp Shoutbox ở trang chủ nếu các vị muốn.  Lành thay !  Lành thay ! 

        Ngày mai Quang sẽ đăng cho các vị khoảng mười lời khuyên ^^.  Các vị nên lưu trữ, cất giữ những lời khuyên nhiều Trí Huệ của Quang để mà tu hành.  Các vị có thực hành theo những lời khuyên của Quang hay không thì tùy ý các vị không bắt buộc, vì các vị là những người nữ học Phật pháp trên mạng.  Những người nữ thường nhớ dai, thực tế, chịu khó tu hành, dễ tin hơn những người nam và các vị đã tin tưởng đúng bậc tu hành.  Sau đó Quang làm những Phật sự khác như đã nói.  

        Sau đây là 10 lời khuyên để hướng dẫn các vị:   

        a.  Chúng ta đã sanh ra ở cõi đời này là chúng ta đang trả nghiệp, đang bị mắc bẫy chứ không phải tự nhiên chúng ta sanh ra để hưởng phước:  Những ai sanh ra ở trong lục đạo luân hồi, ba cõi đều là những chúng sanh đang bị trả nghiệp do những kiếp trước đã tạo nên phải tái sanh, bao gồm Chúa, Thánh A-la (Chúa của đạo Hồi) và tất cả các Giáo chủ của tất cả các ngoại đạo.  Lục đạo luân hồi gồm có những chúng sanh sau đây theo thứ tự của sự thăng tiến tâm linh tăng dần:  Chúng sanh ở địa ngục, ngạ quỷ (quỷ đói toàn chịu khổ), súc sanh, người trong bốn châu thiên hạ vòng quanh núi Tu-di (Đông thắng thần châu, Tây ngưu hóa châu, Nam thiệm bộ châu, Bắc câu lô châu), quỷ thần A-tu-la (gọi là thần vì có phép thần thông biến hóa, bay bổng, nhân là do kiếp trước đã tạo rất nhiều phước.  Gọi là quỷ vì phải chịu nhiều đau khổ trong ăn uống, mất mát và thua trận trước chư Thiên, nhân là do kiếp trước đã tạo rất nhiều nghiệp ác từ thân, khẩu, ý) và chư Thiên (gồm có 28 cõi trời, không phải là 28 vì tinh tú (Nhị thập bát tú) vì 28 vì tinh tú là 28 vị thiện Thần chỉ ở trong một cõi trời, một số chúng sanh ở cõi trời sống rất lâu dài tưởng chừng như 'bất tử' nhưng thực tế là sau khi thọ mạng hết họ lại tái sanh vào trong lục đạo luân hồi.)  Ngoại đạo chấp "A-na-hàm thiên" là chơn giải thoát, chấp "Vô tưởng thiên" là Niết-bàn, chấp "Đại phạm thiên" là 'chúa tể' tạo vật như Chúa Giê-su nhưng thực sự những chúng sanh này hãy còn nằm trong những cõi trời Sắc giới của Tứ thiền thiên.  Đây là những sự thật hiển nhiên có Kinh điển ghi lại, có mây trời chứng minh, có Bề Trên khuyến khích Huệ Quang tuyên thuyết chứ chẳng phải là những gì khó hiểu, bịa đặt.  Tuy nhiên so với đa số của tất cả các vị thì các vị Trời đó rất cao siêu nên các vị phải luôn cung kính.  Chúa Trời nói "Những ai nói ngang bằng Chúa đều bị đọa địa ngục."  Nếu không các vị sẽ mất nhiều phước, gặp nhiều rắc rối vì tội tự cao ngã mạn đối với các vị Trời đó.  Các vị đối với Ma vương cũng vậy.  Trừ chư thiên ra tất cả chúng sanh còn lại đều có những đau khổ trong cuộc sống, cái sung sướng của chư thiên là giả tạm vì cuối cùng họ phải tái sanh.  Ba  cõi là dục giới, sắc giới và vô sắc giới.  Chúng ta đang bị mắc bẫy vì đời sống ở ba cõi không phải là sung sướng, nếu gọi là 'sung sướng' thì chỉ là giả tạm và thân, tâm bị mang nghiệp.  Kinh Pháp Hoa có nói là chúng sanh sống trong ba cõi như ngôi nhà khổng lồ đang cháy hừng hực, các cột kèo đang cháy nhiều có thể gãy đổ bất cứ lúc nào, các loài thú ăn thịt mà chúng ta có thể thấy được bằng mắt thường đang tranh giành thây chết để ăn, các loài ngạ quỷ chúng ta không thấy được bằng mắt thường cũng đang làm vậy.  Ngoài ra còn có nhiều nạn khổ khác trong ba cõi. 

        b.  Tam ác đạo, còn gọi tam đồ hay ba đường ác là những cảnh giới vô cùng kinh khủng, vô cùng đau khổ.  Nếu kể thêm cảnh giới của quỷ thần A-tu-la thì là bốn đường ác.  Các vị phải ghi nhớ và phải cố gắng tu hành để đừng bao giờ bị đọa và bốn đường ác đã nêu:  Theo HT. Tịnh Không giảng thì một ngày ở cõi ngạ quỷ bằng một tháng ở cõi người, một ngày ở cõi địa ngục bằng một năm ở cõi người.  Theo Cư sĩ Tịnh Hải giảng thì nếu ai lỡ bị đọa vào địa ngục thì phải chịu hình phạt ở đó vài ngàn năm, sau đó chuyển lên cõi ngạ quỷ để chịu hình phạt ở đó vài ngàn năm, sau đó chuyển lên cõi súc sanh để chịu hình phạt ở đó vài ngàn năm, sau đó mới được tái sanh làm người.  HT. Tịnh Không và Cư sĩ Tịnh Hải đều là những người rất có uy tín trong giới học Phật và đều biết rõ Nhân Quả nên không nói láo.  Theo Kinh Na-tiên Tỳ kheo thì lửa ở thế gian nung cháy nung cháy một tảng đá lớn to bằng cái phòng ba ngày ba đêm không hề hấn gì.  Nếu tảng đá đó đem nung với lửa địa ngục thì sẽ bị cháy thành nước trong khoảnh khắc.  Thật là vô cùng kinh khủng, vô cùng đau khổ !  Trừ chư Thiên ra, những chúng sanh khác ở trong vòng luân hồi cũng có đau khổ tuy là không kinh khủng, không triền miên so với chúng sanh ở tam ác đạo. 

        c.  Các vị nên có những sự ngày ăn chay định kỳ trong tháng, sau đó các vị nên gia tăng số ngày ăn chay trong tháng rồi dần dần cho đến khi các vị có thể ăn trường chay:  Những ai ăn mặn đều là những người gián tiếp giết chúng sanh ở cõi súc sanh, điển hình là thú rừng, gia cầm và gia súc.  Các vị đi ăn nhà hàng đều có ăn thịt, các vị đi chợ mua thức ăn về xào nấu cũng có ăn thịt.  Khi nhà hàng, chợ hết thịt thì lại đặt mua thịt mới.  Do đó thợ săn thú, người bẫy chim, người chèo lưới, người câu cá, trại chăn nuôi gia súc, trại chăn nuôi gia cầm, v.v...  lại có việc làm tiếp và những gia súc, gia cầm, thú rừng xấu số sẽ bị giết.  Sau khi chết thì những chúng sanh này sẽ điều tra xem ai là người giết họ và nhận thấy có những người trực tiếp và những người gián tiếp giết họ.  Các vị là những người gián tiếp giết họ vì ham ăn mặn để hợp khẩu vị.  Do đó họ sẽ theo trả thù các vị một cách gián tiếp.  Sự trả thù của họ là làm cho các vị khó khăn, rắc rối  trong đời sống, khó gặp được Phật pháp, nhất là pháp môn Niệm Phật và khó có cơ hội tu hành.  Một chúng sanh còn là vậy, nói chi là nhiều chúng sanh bị gián tiếp giết do các vị ham ăn mặn để hợp khẩu vị.  Những ngày đầu khi Quang phát tâm ăn trường chay thì chư Thiên hoan hỉ kéo đến chúc mừng Quang ở trong mơ và theo Quang để giúp đỡ trên bước đường tu hành của Quang. 

        d.  Các vị nên học ăn một ngày một bữa trước giờ ngọ, khoảng 11 giờ sáng cho đến 12 giờ trưa:  Đức Phật dùng Phật nhãn và một số Tăng sĩ nhìn thấy sau 12 giờ trưa thì những loài ngạ quỷ được thả ra để đi đó đây.  Khi họ thấy những ai ăn sau 12 giờ trưa thì họ rất đói cồn cào nhưng không thể nào ăn được nên sẽ theo trả thù những người làm cho họ thêm đói.  Sự trả thù của họ là làm cho các vị khó khăn, rắc rối  trong đời sống, khó gặp được Phật pháp, nhất là pháp môn Niệm Phật và khó có cơ hội tu hành. Đức PHẬT thuyết "Chư thiên ăn buổi sáng, chư PHẬT và chư Tăng ăn trước và gần giờ ngọ, súc sanh ăn buổi chiều, ngạ quỷ ăn buổi tối." 

        e.  Các vị nên phát tâm tu hành hay phát nguyện Vãng sanh càng sớm càng tốt không nên chần chờ.  Thiện tai !  Thiện tai !  Các vị cần phải gạt bỏ những quan niệm 'Tôi còn trẻ, hãy hưởng những thú vui trên đời trước đi đã, rồi sau đó khi về già phát tâm tu hành sau cũng chưa muộn.'  Các vị cần phải gạt bỏ quan niệm 'Tôi còn trẻ' rất sai lầm:  Đa số những người trẻ thường quan niệm 'Tôi còn trẻ, hãy hưởng những thú vui trên đời trước đi đã, rồi sau đó khi về già phát tâm tu hành sau cũng chưa muộn.' hoặc là 'Phật giáo là lạc hậu chỉ dành cho những người già, những người thất tình và những người chán đời.'  Nói về thời gian, bất cứ người nào khi qua đời có hai trường hợp:  Trường hợp thứ nhất là người đó sống thọ rồi mới qua đời, nói cách khác là người đó trải qua giai đoạn sanh, lão, bệnh, tử.  Trường hợp thứ hai là người đó qua đời bất cứ lúc nào theo luật vô thường của Phật giáo.  Ai qua đời theo trường hợp thứ hai thì coi như rất hiếm có lại được thân người để mà tu hành theo Phật giáo. Vô thường xảy đến với bất cứ ai không phân biệt già trẻ, người già hay trẻ khi thọ mạng không còn thì thần chết kéo đến dẫn hồn về âm phủ không thể van xin hay 'hối lộ', Diêm Vương chỉ nể những người tu hành và những người tu hành niệm Phật chứ khi phán xét tội phước thì không phân biệt ai dù là già hay trẻ.  Ở nghĩa trang có rất nhiều người qua đời khi tuổi còn trẻ. 

        g.  Các vị đừng bao giờ cập nhật những hình ảnh khiêu dâm, thiếu vải, 'cô gái nghèo' trên mạng mà các vị sẽ bị mất nhiều phước hay có hồn ma theo hại:  Các vị cần phải tuyệt đối thức tỉnh trước những điều nguy hại này.  Các vị bị mất nhiều phước là vì hình ảnh khiêu dâm của các vị mang tính tiêu cực chẳng đem lợi ích gì cho người xem trên bước đường giải thoát sanh tử của họ mà ngược lại ảnh hưởng xấu rất nhiều đến sự giải thoát sanh tử của họ.  Những hình ảnh mang tính dâm dục đó được rất nhiều người trên mạng xem và có thể được lan truyền rộng rãi đến nhiều trang web khác.  Các vị vô tình hại những người nam ham mê sắc dục đó nhưng thực sự họ đều là Cha Mẹ của các vị ở một trong những kiếp trước.  Người nam nào bất hạnh sẽ bị qua đời do tâm trí bị điên đảo vì sắc dục nên tạo nhiều nghiệp xấu.  Khi họ qua đời rồi thì họ sẽ theo các vị để mà báo thù vì hình ảnh khiêu dâm của các vị đã gây nên cái chết của họ. 

        h.  Tâm thật của các vị vốn thanh tịnh không bị nhiễm một hạt bụi trần.  Các vị nên tìm nơi thanh vắng, yên tịnh để ở, sinh hoạt, làm việc, tu hành và tránh xa những nơi ồn ào, huyên náo, nhiều màu sắc, nhiều người qua lại vì những điều đó sẽ làm cho tâm thật của các vị bị ô nhiễm và càng lúc càng xa bến bờ giải thoát.  Các vị cũng nên hạn chế tiếp xúc nhiều với những phương tiện thông tin đại chúng như là TV, radio, sách báo, phim ảnh, mạng lưới truyền thông, nghe nhạc, video, cassette, v.v...  Những điều đó sẽ làm cho các vị mất nhiều phước và vô tình tạo nhiều nghiệp xấu.  Phật giáo có câu "Quay đầu là bờ" và có những pháp môn hữu hiệu là Thiền định và Niệm Phật để giúp cho tâm thật, chân tâm, bản lai diện mục hay Phật tánh của các vị được trong sạch.  Bờ là dụ cho tâm thật không bị ô nhiễm một hạt bụi trần, quay đầu là dụ cho sự thực hành một trong 84,000 pháp môn mà Đức PHẬT đã tuyên thuyết để giúp các vị trở về được với tâm thật của các vị với hai pháp môn được biết đến nhiều nhất là Thiền định và Niệm Phật.  Trong thời đại mạt pháp hiện nay, hữu hiệu nhất, mầu nhiệm nhất, dễ tu, dễ chứng và hợp thời cơ nhất vẫn là pháp môn Niệm Phật.  Các vị nên dành nhiều thời gian cho Thiền định lúc đi, đứng, nằm, ngồi và niệm Phật thật nhiều.  Hiếm có ai trên thế gian (có thể là không có) thấy rõ ràng tường tận những điều này.  Các vị cần nên ghi nhớ để giúp ích cho bước đường giải thoát sanh tử của các vị. 

        i.  Một vài đoạn trích trong Kinh Trừ Khủng Tai Hoạn mà Đức PHẬT Bổn Sư đã thuyết để khuyên nhủ những người nữ ở thế gian ^^: 

        "Bấy giờ nàng Nại Nữ ra mắt Phật rồi, dường như mặt trời mọc ra khỏi đám mây, ánh kim quang chói lọi, liền phát ý thanh tịnh, năm vóc mọp sát đất, cúi đầu làm lễ dưới chân Phật.  Phật bảo nàng Nại Nữ rằng:  "Thân người nữ lung lòng buông ý, hoặc đắm mê ngũ dục, nếu người có thể ngăn dẹp được tâm, lại trở về hầu Phật, và thường theo hầu đức Phật, và hay nghe lời giáo hóa của đức Như Lai, thật là người có lợi. 

        Phần trần lao gánh nặng, đối về phần nam tử thì có phần kém hơn, còn đối về phần nữ nhân, thì bị lưới trần lao triền miên, bị nhiều điều chướng ngại, không biết ngày nào sẽ xuất ly được.  Tất cả sự sự, vật vật ở giữa đời này, đều là khổ, là không, là vô thường, không thể nương cậy được, dụ như đang lúc đương mạnh, gặp một trận đau đã ra người yếu đuối, lúc vì mất nhan sắc, lúc chết hết kiếp thọ mạng, đến lúc nguy, nó choán hết cả sự yên ổn của con người.  Vậy nếu muốn xa lìa khỏi nạn ấy, phải tinh chuyên, vâng thọ giáo pháp của Như Lai, cần tu hành và vâng làm theo việc lành, mới mong khỏi khổ. 

        Phàm nữ nhân hay oán ghét, hễ oán ghét nhau mà gặp nhau, thì biết bao là khổ, chẳng khác nào nỗi khổ ân ái nhau trìu mến nhau rồi xa lìa, phàm làm người nữ không ai khỏi sự ấy.  Thế nên người nữ cần phải vâng làm theo giáo pháp của đức Như Lai, mới có thể xa lìa được những sự khổ là sinh, bệnh, lão, tử, và các sự khổ đều trừ dứt".        

        k.  Cuộc sống của con người là một giấc mộng dài, rất ít người thức tỉnh để mà tu hành:  Một người chẳng có gì gọi là thật có cả ngoài tâm thật hay Phật tánh.  Những gì người đó sở hữu như thân tứ đại giả, tài sản, vợ con đều là không có thật.  Khi người đó qua đời thì không mang theo được gì cả sang kiếp khác trừ tâm thật với những nghiệp tốt và xấu mà người đó đã tạo ra.  Như trong giấc mộng, một người có quen một cô gái đẹp, đến khi gần cưới thì đột nhiên tỉnh giấc, cô gái trong mộng không thấy đâu.  Như trong giấc mộng, một người tìm thấy một viên ngọc quý, đến khi muốn bán viên ngọc quý để lấy tiền tiêu xài thì đột nhiên tỉnh giấc, viên ngọc quý không thấy đâu.  Cuộc sống của con người như là một giấc mộng dài vì người đó do không có Trí huệ nên đều là đang tìm kiếm những gì không có thật trong một thời gian dài.  Do đó người có Trí huệ nên luôn luôn tu hành để có những công-phu tu-hành là phước-đức, công-đức và công-phu tu-hành theo pháp môn Niệm-Phật để được Vãng sanh.  Nếu không Vãng sanh thì người đó có thể mang theo những công-phu tu-hành từ kiếp này sang kiếp khác. 

        l.  Giảng giải những câu thơ của Tổ Sư: 

        "Nhất nhựt vô thường đáo,

        Phương tri mộng lý nhơn.

        Vạn ban tương bất khứ,

        Duy hữu nghiệp tùy thân."  chuyển ngữ là

        "Ngày kia vô thường đến,

        Mới biết mình trong mơ.

        Muôn việc đều bỏ lại,

        Chỉ có nghiệp theo mình."

        Các vị nên xem phần k. Cuộc sống của con người là một giấc mộng dài, rất ít người thức tỉnh để mà tu hành để hiểu rõ hơn.  Khi vô thường đến thì tất cả những gì mà người đó có được từ trước đến nay như thân giả, tài sản của cải, vợ, chồng, con cái, những việc làm còn đang dang dở đều không thể nào mang theo được.  Khi thần chết đến để đem hồn, thần thức người đó về âm phủ thì người đó không thể van xin, 'hối lộ', khóc lóc, gia hạn, dụ dỗ được.  Theo ý bài thơ thì người xấu số chỉ mang theo những nghiệp xấu sang cảnh giới mới chứ không mang theo được gì khác. 


        Mới:  Hai ngày trước Quang phụ em trai, có tiệc party và đàn nhạc.  Ngày hôm qua Quang phụ em trai và lưu trữ một số hình của những shemale, ladyboy và một hình của hefemale, gentlemangirl (Quang không biết nên gọi người nam đó là gì và chuyển ngữ ngược lại so với những từ shemale, ladyboy.)  Những shemale trong hình có những cô rất đẹp, đẹp hơn nhiều cô gái mà Quang gặp.  Tuy nhiên Quang không mê những sắc đẹp của những người nữ vì đó là do trang điểm giả tạo mà có, những người nữ vì chấp 'em là người nữ' từ nhỏ đến lớn nên có sự duyên dáng và có thêm nét đẹp duyên dáng.  Cộng đồng người Việt ở bên Mỹ mới in những tạp chí sắc đẹp dành cho những người nữ Việt nam, ở Việt nam có những cuộc thi sắc đẹp nhưng mà Quang không bị mê hoặc vào sắc đẹp làm thân, tâm bị ảnh hưởng đến sự tu hành.  Đức Phật dạy "Ngũ dục là những con rắn độc" và Quang nên tránh chuyện đó cũng không khuyến khích các vị người nữ làm đẹp, hoàn toàn là không.  Ngũ dục là sắc, tài, danh, thực, thùy, chuyển ngữ là sắc đẹp, tiền của, danh vọng, ăn, uống. 

        Quang cũng gặp nhiều shemale có những thân người nữ rất đẹp, đẹp hơn nhiều cô gái mà Quang gặp.  Quang không đăng ở đây vì đây là trang Phật giáo phải giữ vẻ trang nghiêm, kính trọng Tam Bảo và không muốn dư luận chê cười.  Các vị có thể tìm kiếm trên mạng và thấy được những điều Quang nói.  Những shemale có thể có chuyện đó với người nam lẫn người nữ theo ý họ muốn.  Vì còn chấp 'em là người nữ' nên những shemale có thể mặc áo quần như những người nữ vậy cho dù cơ thể của họ không có những thứ đó, thí dụ:  Áo quần có vải carô nhỏ lớn, những bông hoa nhỏ lớn, màu bạc, vải có những viền tua, áo quần có nơ, màu hồng của người nữ trẻ, v.v...  Những shemale còn chấp là người nữ vì cơ thể của họ còn có những cấu trúc cơ thể của người nữ.  Có những shemale vẻ mặt và tính tình rất là nữ tính.  Các vị nhìn vẻ mặt và tính tình của họ không thể nào ngờ được đây là những shemale.  Người châu Á gọi những shemale là ladyboy. 

        Đức Phật dạy là trên thế gian có nhiều người nữ có bộ phận sinh dục của người nam, hiếm có người nam có bộ phận sinh dục của người nữ, tuy nhiên không phải là không có.  Trước đây trên thế giới có một người nam đã có vợ nhưng người nam đó có bầu khoảng 9 tháng 10 ngày.  Bác sĩ phải phẫu thuật để lấy đứa bé ra.  Trên thế giới có những người nam làm phẫu thuật để có bộ phận sinh dục của người nữ.  Có người nam đã có vợ nhưng làm phẫu thuật để thành người nữ, khi cưới là vợ chồng, một thời gian sau trở thành hai chị em.    

        Những shemales, ladyboys và hefemales không phải tự nhiên mà sanh ra làm những người khác thường như vậy.  Tất cả đều là do những nghiệp duyên đã tạo từ kiếp trước nên kiếp này họ mới có những báo thân như vậy.  Thần thức của một người do nghiệp duyên ở kiếp trước đã tạo mà kiếp này sanh ra làm người nam, cũng vậy thần thức của một người do nghiệp duyên ở kiếp trước đã tạo mà kiếp này sanh ra làm người nữ.  Dưới mắt nhìn của Bề Trên thì người nam không phải thật sự là người nam và người nữ không phải thực sự là người nữ.  Qua thời gian hơn một kiếp thì họ có thể chuyển đổi giới tính.  Ông Bành Tổ tu hành theo đạo Tiên sống lâu nhất trên thế giới khoảng 800 năm nên có thể thấy một người có thể chuyển đổi giới tính qua lại khoảng 10 lần, giả sử người đó kiếp sau hoàn toàn may mắn được sanh lại làm người liên tục 10 kiếp liền hay hơn nữa.  Nếu các vị từ chối không công nhận thì thực tánh của các pháp, sự thật vẫn là vậy không hề thay đổi.  Các vị vẫn còn chấp nam, nữ và chấp thời gian đang sống là dài.  Một lần nữa, những câu thơ sau đây mà Đức Phật đã thuyết trong Kinh Pháp Cú rất là thấm thía: 

        "Ai sống một trăm năm
        Không thấy Pháp tối thượng
        Tốt hơn sống một ngày
        Thấy được Pháp tối thượng." 

        Kết luận:  Những người nam sanh ra có thân tướng là người nam nhưng không phải thực sự là người nam, những người nữ sanh ra có thân tướng là người nữ nhưng không phải thực sự là người nữ, những người shemales sanh ra có thân tướng là người shemale nhưng không phải thực sự là người shemale và những người hefemale sanh ra có thân tướng là người hefemale nhưng không phải thực sự là người hefemale, cũng vậy người bê đê (gay) không phải thực sự là bê đê và người ô môi (lesbian) không phải thực sự là ô môi.  Họ đều là do nghiệp ở kiếp trước nên có thân tướng là vậy.  Nếu người nam cứ nghĩ mình là người nam và người nữ cứ nghĩ mình là người nữ rồi cưới nhau, sanh con đẻ cái, gây dựng sự nghiệp rồi suốt đời mất nhiều thời gian cho những thứ giả tạo đó và khi lìa cõi đời thì chẳng mang theo được gì những thứ đó cả mà chỉ mang theo những nghiệp đã tạo.  Nếu họ thấy được sự thật, không có chấp vào thân tướng và những người nam, người nữ, người shemale, người hefemale, bê đê và ô môi cố gắng tu hành ở kiếp này thì kiếp tới sẽ có thân tướng khác đẹp hơn nhiều hoặc tốt đẹp hơn rất nhiều là được Vãng sanh thành Đức Phật với quả vị Vô thượng Chánh đẳng Cháng giác.  Quang để mục nói về shemale và hefemale để các vị đọc và Quang sẽ di chuyển mục này đến trang khác sau. 


        Mới:  Quang phải mất nhiều thời gian hôm nay để tìm những hình của vài shemales vừa đẹp lại vừa sexy để giúp cho các người nữ phá chấp 'em là người nữ, em đẹp và em sexy'.  Cái nhìn của các vị còn thiển cận, thấy hiện tại chứ chưa thấy tương lai, thấy gần ở kiếp này chứ chưa thấy xa ở những kiếp trước và những kiếp tới.  Các vị có thể nói 'Em là người nữ, em đẹp, em có thân người hấp dẫn.'  Quang không phủ nhận điều đó nhưng cái nhìn của các vị chỉ là cái nhìn tương đối chứ chưa phải là tuyệt đối, chưa phải nhìn đúng theo thật tướng của các Pháp, nói một cách khác là đúng theo như Kinh điển mà đức Phật đã thuyết.  Như khi các vị có dịp tọa Thiền và lên Thiên cung dạo chơi thì sẽ nghe chư Thiên nói là người nữ này kiếp trước là người nam, kiếp trước nữa là người nữ, kiếp trước nữa lại là người nam với giả sử là các vị rất may mắn được sinh trở lại làm người trong những kiếp kế tiếp.  Các vị có thể nói là các vị đẹp nhưng so với một Thiên nữ thì các vị chẳng khác nào một đứa đầy tớ gái đứng bên cạnh một Nữ vương của trái đất, còn việc nói các vị có thân người hấp dẫn thì cũng có thể so sánh như vậy nói theo như Kinh điển.  Quang chỉ mới so sánh các vị với Thiên nữ chứ so với Thánh nữ thì còn không thể nghĩ bàn hơn nữa.  Quang không phải chê bai gì các vị nhưng Quang mong muốn các vị đừng chấp là cõi đời này hay kiếp người là sung sướng, kiếp hiện tại đang sống là dài, các vị vẫn mãi là người nữ không thay đổi để rồi các vị phát tâm tu hành để cho đời hết khổ, để mãi mãi không bị những cái giả vừa kể chi phối.  Khi Quang mới quen các vị thì Quang làm bộ đóng vai người nam để từ từ giúp đỡ các vị hiểu thêm về Phật pháp.  Vì khi mới quen nhau thì lúc đó chỉ là phương tiện tạm thời, bây giờ các vị đã biết Quang là ai rồi nên Quang xin phép thôi đóng vai người nam.  Quang mong muốn quan hệ giữa Quang và các vị mãi là Thầy và trò hay Thiện tri thức và người theo học Phật pháp để các vị khỏi phải mang nghiệp xấu sau nàyQuang mong muốn các vị khỏi phải đau khổ sau này vì Quang đã nói cho các vị biết trước.  Trên con đường tu hành thành Phật thì trừ các bậc Thánh đã xuất khỏi thế gian, liễu sanh tử như là Thánh A-la-hán, đức Phật Duyên-giác và Bồ-Tát tu hành trong những điều kiện sung sướng, còn lại những chúng sanh khác tu hành lên thành Phật phải tu hành trong những điều kiện cực khổ.  Quang có những quả vị Thánh nhưng chưa phải là Thánh A-la-hán đã xuất thế gian, liễu sanh tử nên còn phải tu hành cực khổ như các vị và những hành giả khác để mong được xuất thế gian, Vãng sanh hay thành Phật.  Quả vị Phật đà, còn gọi là quả vị Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác rất là an vui tuyệt đối nhưng muốn đạt được thì phải chịu tu hành cực khổ khi chúng ta hãy còn ở thế gian.  Quả vị Phật đà không phải từ trên trời rơi xuống, từ dưới đất chui lên hay tự nhiên mà có

        Ở trên Quang có đăng hình những shemales với những hình cuối cùng có ý nói là Quang sẽ lập ra những quy tắc tu hành của Quang dành cho tất cả các vị Việt nam học Phật pháp trên mạng ở khắp nơi:  Việt nam, hải ngoại và Mỹ cùng với những quy tắc tu hành Phật pháp trên mạng bằng Anh ngữ ở trang www.TrueHappiness.ws cho các vị người nước ngoài khắp nơi.  Quang sẽ lập một trang riêng về những quy tắc tu hành bằng Việt ngữ ở trang Tu và Hành và một trang riêng bằng tiếng Anh ở trang www.TrueHappiness.ws.  Các vị có thể xem đoạn phim ca nhạc sau đây để biết là ngoài các vị ra còn có những vị Việt nam ở những nơi khác mong muốn được Quang giúp đỡ về Phật pháp:

         http://www.youtube.com/watch?v=0oBWOH0D8sI&feature=share
 

        Mới:  Quang cập nhật hai hình vẽ của Pháp Sư Pháp Trí để các vị xem rồi suy nghĩ xem vị trí tu hành hiện giờ của các vị thì ở đâu và sự nhận thức về tự tánh của các vị có đúng không? 

 

         Hình trên nhắc nhở các vị hãy mau mau thức tỉnh và nếu các vị đã sớm thức tỉnh để tu hành rồi thì các vị hãy kiểm tra xem vị trí tu hành hiện thời của các vị là ở đâu?  Vòng tròn trong cùng là đức Phật với quả vị Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác.  Vòng tròn kế tiếp là sự giác ngộ.  Theo ngôn ngữ của người Trung Quốc thì chữ PHẬT có nghĩa là GIÁC NGỘ.  Sự giác ngộ đó là sự giác ngộ hoàn toàn tuyệt đối 100% chứ chẳng có một chút nào mê cho dù nặng hay nhẹ.  Trong chín pháp giới chúng sanh (chư PHẬT đã giác ngộ hoàn toàn chẳng chút nào mê nên không còn gọi là chúng sanh) thì từ chư Bồ-Tát trở xuống đến chúng sanh ở cõi địa ngục thì còn đang mê.  Tuy nhiên mê có nặng nhẹ, hễ có Trí huệ nhiều thì mê ít được ở cõi trên cao sung sướng, ngược lại hễ có Trí huệ ít thì còn mê nhiều nên ở cõi dưới thấp chịu đau khổ ít hay nhiều tùy theo nghiệp đã tạo.  Vòng tròn kế tiếp có bốn chữ Trí tuệ là sự nghiệp của chư Tăng.  Vòng tròn kế tiếp là thiền định, Thiền định là quan trọng vì nếu không có định thì không thể phát sinh Trí tuệ.  Vòng tròn kế tiếp ở ngoài là Trì giới, có giữ giới mới có được định rồi sau đó mới có Trí tuệ.  Giới, Định, Tuệ là Tam-vô-lậu học.  Vòng tròn kế tiếp là Tụng Niệm với tụng là tụng Kinh và niệm là niệm Phật.  Vòng tròn ngoài cùng là Lễ bái cúng kiến gồm có cúng dường bậc cao hơn và bố thí bậc thấp hơn.  

và 



        Biểu đồ trên nói về sự nhận-thức tự-tánh.  Hình trái tim trong cùng là Phật-tánh với những tên gọi khác là tâm-thật, thật-tướng, chơn-như, Pháp-thân, Bản-lai diện-mục theo cách gọi của Thiền tông.  Thân-thật (Pháp-thân) và tâm-thật (Phật-tánh) tuy tên gọi khác nhau nhưng đều là một vì khi tâm thật thức-tỉnh thì mới chịu tu-hành để có được sự phát-triển của Pháp-thân.  Do đó mới có sự hướng về phía ánh-sáng, dẹp bớt vô minh mà đi và mới có sự lấy Giải-thoát làm cứu-cánh.  Vòng tròn kế tiếp bên ngoài nói về thân giả và tâm giả.  Thân giả hay huyễn thân dựa vào danh sắc mà hình thành, danh là hư danh không có thật còn sắc là sắc thân là thân tứ đại (gồm có 4 yếu tố đất, nước, gió, lửa của cơ thể) cũng không có thật vì dễ bị hư hoại, chịu định luật vô thường.  Tâm giả thì cũng không có thật gồm có 4 phần sau của ngũ uẩn (gồm có sắc, thọ, tưởng, hành, thức) là thọ, tưởng, hành, thức;  phần đầu của ngũ uẩn (ngũ ấm) là sắc thuộc về thân giả và cảnh vật bên ngoài cũng không có thật (sắc = thân giả + cảnh vật bên ngoài).  Vòng tròn kế tiếp là ngũ uẩn hay ngũ ấm là một trong bốn thứ ma cản trở sự tu hành. Vòng tròn kế tiếp là 6 thức có được do 6 căn của cơ thể (gồm có 1 căn là ý thuộc về phần tinh thần của cơ thể và 5 căn còn lại là nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân thuộc về phần 'vật chất' của cơ thể) tiếp xúc với 6 trần mà hình thành: 6 căn (thuộc về sinh lý) + 6 trần (thuộc về vật lý) = 6 thức (thuộc về tâm lý).  Lục căn (6 căn) cùng với lục trần (6 trần) gọi là thập nhị xứ (12 xứ).  Sáu căn cùng 6 trần và 6 thức gọi là thập bát giới (18 giới).  Thập pháp giới bao-trùm muôn-pháp thế-gian, không sót vật gì.  Vòng tròn kế tiếp là 6 trần 'bên ngoài' cơ thể là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Vòng tròn kế tiếp bên ngoài nói về những nghiệp chướng, những sai lầm của một người không biết tu-hành hay không chịu tu-hành nên tạo ra những đau khổ cho người đó về sau, gồm có tam độc hay 3 phiền não chính là tham (nhân của ngạ quỷ), sân (nhiều là nhân của địa ngục, ít và thường hay có là nhân của quỷ thần A-tu-la, còn gọi là thần chiến tranh, Anh ngữ là Asura, ngoại đạo gọi là Titan. Quỷ thần A-tu-la tuy có thần thông như biết biến hóa, bay đây đó nhưng thường sanh lòng nóng giận vì những 'bất công' với chư Thiên như trồng cây trái ngon ở cõi A-tu-la thì không có trái, đến khi có trái ngon thì lại mọc nơi cõi chư Thiên ở, A-tu-la nữ rất đẹp là vợ của A-tu-la nam bị chư Thiên cướp làm vợ, A-tu-la nam luôn luôn bị thua trận trước những cuộc giao đấu để 'trả thù' với chư Thiên. Nhân khác bị đọa vào cõi A-tu-la là tạo rất nhiều phước nhưng cũng tạo rất nhiều nghiệp xấu), si (nhân của súc sanh vì vô minh mà tạo nghiệp. Súc sanh còn gọi là bàng sanh (từ ngữ dùng cho lịch sự, nhẹ nhàng hơn) không chịu suy nghĩ, lúc nào cũng ra vẻ ngu ngu ngơ ngơ chấp nhận số phận 'bình thường'. Có 2 hạng cơ bản: Hạng thấp là những người bình thường nghe giảng Pháp, xem thuyết Pháp, đọc Kinh điển, v.v... biết như vậy là đúng mà vẫn cố chấp không chịu sửa chữa, vẫn cố tình tạo nghiệp xấu xem đó là chuyện 'bình thường', 'không có sao đâu'. Hạng cao là những người tu-hành được các bậc tôn trưởng, Sư trưởng, Thiện tri thức, Bề Trên ân cần nhắc nhở, chỉ bảo, giảng giải, đưa ra thí dụ mà vẫn cố chấp không chịu sửa chữa, vẫn cố tình tạo nghiệp xấu xem đó là chuyện 'bình thường', 'không có sao đâu'. Hạng này tuy bị đọa làm bàng sanh nhưng thường gặp đức Phật, nghe Pháp, gặp Tăng sĩ, Thiện tri thức, v.v... là rất nhiều thuận-duyên cho sự tu-hành.), những sai lầm ở cõi trần thế là ái dục (có đến 36 dòng ái khác nhau), vô minhngã chấp, những sự khổ không tránh khỏi là 8 thứ khổ khi làm người (sanh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly khổ: Xa người mình thương, oán tắng hoại khổ: Sống gần người ghét, cầu bất đắc khổ: Mong cầu không được toại ý và Ngũ ấm xí thạnh khổ: Là một trong 4 ma chướng cho sự tu-hành) và nỗi khổ sanh tử luân hồi

        Vì mong muốn cho các vị dễ hiểu nên Quang giải thích khá dài dòng.  Quang sẽ giải thích những từ ngữ của sự nói Pháp nêu trên ở mục Giải thích những từ ngữ Phật giáo ở trang NHỮNG LỜI KHUYÊN PHẬT GIÁO sớm.  Quang cũng sẽ vẽ những biểu đồ Phật giáo để các vị dễ hiểu hơn.  Những Phật sự mà Quang đã nói cũng sẽ được thực hiện và những Phật sự khác. 

       Mới:  Sự giải thích những từ ngữ của sự nói Pháp nêu trên ở mục Giải thích những từ ngữ Phật giáo ở trang NHỮNG LỜI KHUYÊN PHẬT GIÁO. 

        Mới:  Quy tắc thực hành Phật giáo hàng ngày cho những người ghé trang Phật giáo của Phật tử Huệ Quang:  Các vị có ứng dụng những gì Quang hướng dẫn các vị hay không thì tùy ý các vị. Quang không có la và bắt buộc các vị.

       Các vị phải tôn trọng những người tu hành giữ giới trong Phật giáo, cụ thể là những Phật tử và chư Tôn Đức Tăng Ni, nhất là chư Tôn Đức Tăng Ni. Các vị nên tôn trọng những người tu hành đó bằng cách đọc kỹ những Kinh điển nói về luật Nhân Quả, nhất là Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện.
        Các vị phải luôn giữ gìn Thập Thiện cho dù các vị có giữ giới Thập Thiện hay không. 
        Các vị phải tụng Kinh ít nhất là 1 lần trong một ngày tốt nhất là vào cuối tuần, tốt nhất là vào Chủ nhật
        Các vị phảu giữ gìn ngũ giới nếu có thể được.
        Các vị nên thường xuyên đọc Kinh điển và nghe Pháp.
        Các vị phải có cả hai mặt tu và hành.
        Các vị phải có cả hai mặt phước huệ song tu.
        Các vị phải tu hành cả Thiền lẫn Tịnh độ, cụ thể là pháp môn Niệm Phật, nhất là pháp môn Niệm Phật.
        Các vị phải tìm hiểu về Lục độ Ba-la-mật và tu hành theo Lục độ Ba-la-mật nếu có thể.
        Các vị phải tránh xa bốn điều sau đây: Sát, đạo, dâm, vọng. Nếu các vị còn vướng vào thì các vị không thể giải thoát.
        Các vị phải ăn chay định kỳ ít nhất là hai ngày trong một tháng. Nếu có thể được các vị nên ăn trường chay.
        Các vị nên có một bữa ăn chính vào bữa sáng. Nếu có thể được các vị nên ăn một bữa trong một ngày vào khoảng 11 giờ sáng đến 12 giờ trưa. Nhất là không được quá 12 giờ trưa.
        Các vị phải luôn luôn ghi nhớ và cảnh giác những điều sau đây:  Quang sẽ đăng sau. 
        Các vị phải học thuộc lòng Kinh Pháp cú với hình vẽ. 


        Mới:  Những biểu đồ Phật giáo rất quan trọng ^^:  Tác giả Tỳ Kheo Thích Thông Giác, họa sĩ Phật tử Tâm Lạc, chuyển ngữ từ Anh sang Việt  Phật tử Huệ Quang.  Có nhiều từ Quang sẽ chuyển ngữ sau và Quang cũng sẽ làm cho những biểu đồ rõ ràng hơn sau: 

       Hình 1:  Nguồn gốc của sự giải thoát

 

        Shakyamuni Buddha:  Đức Phật Bổn Sư hay Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni, Root source of liberation:  Nguồn gốc của sự giải thoát: 

      

        Hình 2:  Tôi là ai?


        Who am I?:  Tôi là ai?  hay là Self:  Tự ngã hay cái tôi, Wisdom:  Trí huệ, Consciouness:  Tư tưởng, ý thức, Living according with Conditions: Sống theo duyên khởi (các pháp theo nhân, duyên mà sanh ra;  cũng theo nhân, duyên mà mất đi), Living upon one's primal ability:  Sống theo khả năng ban sơ, tự có, Body:  Thân thể, Mind:  Tâm ý, Object:  Đồ vật, Sensation:  Cảm giác (Do giác quan sanh ra, là động từ), Emotion:  Cảm xúc (Do tâm ý sanh ra, là tính từ), Perception có 2 ý nghĩa:  a.  Sự nhận thức của giác quan (dùng cho biểu đồ Phật giáo ở trên), b.  Quan niệm.  I feel... Pleasure, Hungry, Ache, Cold, Pain, Hot, Itchy, Sick:  Tôi cảm thấy...  Dễ chịu, Đói, Đau, Lạnh, Đau, Nóng, Ngứa, Bệnh.  I am...  Happy, Disgusted, Jealous, Sad, Angry, Satisfied, Afraid, Depressed, Proud:  Tôi thì...  Hạnh phúc, Kinh tởm, Ghen tị, Buồn, Giận dữ, Thỏa mãn, Sợ sệt, Căng thẳng, Tự hào.  Greed, Anger, Delusion:  Tham, Sân, Si. 


        Hình 3:  Những giác quan:      


        Sensations:  Những giác quan, Eye, Ear, Nose, Tongue, Body, Mind:  Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý (sáu căn), Sight, Sound, Smell, Taste, Touch, Dharma:  Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp (sáu trần), Sensation:  Cảm xúc, Cảm giác, Happiness:  Lạc hay Vui, Unhappiness:  Khổ hay Buồn, Unrecorded:  Vô ký hay Không cảm thọ (không hạnh phúc cũng không đau khổ, không vui cũng không buồn), từ Sensation (Cảm giác) nên được dùng bằng từ Feeling (Cảm thọ) thì đúng hơn vì cảm giác thì liên quan nhiều đến các sự cảm nhận của các giác quan, còn cảm thọ thì liên quan nhiều đến cảm giác vui, buồn hay không cảm thọ của tâm. 

       

        Hình 4:  Sự mong muốn của những giác quan:  Hình này không rõ ràng, Quang sẽ tìm cách làm rõ ràng sau. 



        Hình 5:  Tâm 

        Forms of the six gunas:  Hình dáng của sáu trần, Buddha:  Đức PHẬT, Bodhisattva:  Bồ-Tát, Praetyka:  Đức Phật Duyên giác, Arhat:  Thánh A-la-hán, Deva:  Chư Thiên, Asura:  Quỷ thần A-tu-la, Human:  Người, Animal:  Động vật, từ Phật giáo gọi là Súc sanh, gọi lịch sự là Bàng sanh, Hungry ghost:  Quỷ đói, Hell:  Cõi địa ngục, nên gọi đúng hơn là Hell being:  Chúng sanh ở cõi địa ngục, MIND là Tâm.  


        Hình 6:  Sự hoạt động của thân và tâm: 

        Operational way of body and mind là Sự hoạt động của thân và tâm, Reaping the karmic results of the past là Sự gặt hái kết quả tạo nghiệp từ quá khứ, 5 desires:  Ngũ dục, Sensation:  Cảm giác, dùng chữ Feeling Cảm thọ thì đúng hơn, Arising of Desire là Sự xuất hiện lòng mong muốn, 7 Emotions:  7 Cảm xúc, Những từ ngữ bên dưới không rõ ràng Quang sẽ làm rõ ràng sau, Mouth:  Miệng hay Khẩu, Body:  Thân, Verbal Karma:  Khẩu nghiệp, Mental Karma:  Ý nghiệp, Bodily Karma:  Thân nghiệp, Sowing future Karmic seeds:  Sự gieo trồng những hạt giống nghiệp trong tương lai. 


        Hình 7:  Nghiệp và sáu đường thọ sanh (lục đạo luân hồi): 

        Karma and six paths:  Nghiệp và sáu đường thọ sanh (lục đạo luân hồi), Killing:  Sát sanh, Stealing:  Trộm cắp, Adultary:  Tà dâm (là ba nghiệp ác của thân (body)), False speech:  Nói láo hay Vọng ngữ (không có nói là có, có nói là không có), Double tongue:  Nói lưỡi hai chiều (gặp người này nói xấu người kia, còn gặp người kia nói xấu người này), Flrivolous speech:  Nói phóng đại hay ỷ ngữ (thổi phồng chuyện cho to ra), Evil speech:  Nói ác độc hay rủa, trừ chư Phật hay chư Tăng, Ni dùng những thí dụ hay luật Nhân Quả để khuyên nhủ (là bốn nghiệp ác của miệng (mouth)), Greed:  Tham lam, Anger:  Sân hận, Delusion:  Si mê (là ba nghiệp ác của ý (mind)).  Biểu đồ này nói về Thập ác hay là 10 nghiệp bất thiện của thân, khẩu, ý. 




        Mới:  Một số lời khuyên của Đức PHẬT để các người nữ nên tránh về tình yêu và tình dục: 


46. "Biết thân như bọt nước,
Ngộ thân là như huyễn,
Bẻ tên hoa của ma,
Vượt tầm mắt thần chết."  Kinh Pháp Cú, phẩm 4:  Phẩm Hoa 

        "Thân như bọt nước" là thân dễ bị biến mất như bọt nước ý nói là thân dễ bị hủy hoại theo luật vô thường của Phật giáo.  Thân bao gồm tứ đại (là bốn yếu tố đất, nước, gió, lửa tượng trưng cho thịt, máu, hơi thở và hơi nóng trong cơ thể, nếu một trong bốn yếu tố đó bị thiếu thì hồn lìa khỏi xác) và ngũ uẩn nên dễ bị mất đi.  "Ngộ thân là như huyễn" ý nói là nhận biết thân chỉ là giả chứ không có thật, sau khi qua đời ai cũng phải bỏ thân giả đó lại chỉ còn lại phần hồn chờ đầu thai sang kiếp khác hoặc có thể cảnh giới khác.  "Bẻ tên hoa của ma" ý nói là Ma vương hay ma quân dùng người nữ làm 'mồi ngon', làm mũi tên bắn để hại người tu hành, bậc tu hành có Trí huệ biết là người nữ này bị ma dựa, bị ma xui khiến nên không bị mắc mưu, do đó bậc tu hành không bị ma hãm hại. 


47. "Người nhặt các loại hoa,
Ý đắm say, tham nhiễm,
Bị thần chết mang đi,
Như lụt trôi làng ngủ." 
Kinh Pháp Cú, phẩm 4:  Phẩm Hoa 

        "Các loại hoa" là hoa lớn, hoa nhỏ hay là thân thể của người nữ để thỏa mãn lòng dâm dục của người nam.  "Như lụt trôi làng ngủ" ý nói là tánh mạng người nam tham dâm dục đã bị thần chết cướp đi bất ngờ theo luật vô thường.  Như ngôi làng đang say ngủ không đề phòng nên nước lũ lụt bất ngờ ập đến cuốn trôi những ngôi nhà và dân làng đi. 

 

48.  Người nhặt các loại hoa,
Ý đắm say tham nhiễm,
Các dục chưa thỏa mãn,
Ðã bị chết chinh phục." 
Kinh Pháp Cú, phẩm 4:  Phẩm Hoa 

        Lòng dâm dục cũng giống như thức ăn, khi no nê rồi thì thỏa mãn không muốn nữa, khi thiếu thốn thì lại muốn thỏa mãn tiếp.  Nhưng có sự khác biệt lớn là nếu thiếu ăn thì chết còn lòng dâm dục không thỏa mãn thì không đến nỗi chết.  Nếu có đủ Trí huệ và kỷ luật thì có thể dễ dàng vượt qua. 

     


147. "Hãy xem bong bóng đẹp,
Chỗ chất chứa vết thương,
Bệnh hoạn nhiều suy tư,
Thật không gì trường cửu."
  Kinh Pháp Cú, phẩm 11:  Phẩm Già 

        Thân thể như cái bong bóng thổi phồng to ra, có đến 70%  của cơ thể là nước.  Bên ngoài gồm có túi da bao bọc, bên trong toàn những thứ bất tịnh và có vi trùng.  Nếu các vị soi kiếng hiển vi một miếng máu hay một miếng nước bọt thì các vị sẽ thấy đầy dẫy nhiều thứ vi trùng trong đó.  Bên trong cơ thể người nữ là bộ xương, rồi sau đó đến thịt da, rồi sau đó mới đến quần áo bao bọc ngoài cùng.  Cơ thể người nữ ngày đêm có chín lỗ bất tịnh đang thải những chất dơ:  Hai lỗ mắt, lỗ miệng, lỗ mũi, hai lỗ tai, lỗ tiểu tiện, lỗ đại tiện và lỗ chân lông.  Thân của người nam cũng đầy dẫy những bất tịnh như vậy. 



148. "Sắc này bị suy già,
Ổ tật bệnh, mỏng manh,
Nhóm bất tịnh, đỗ vỡ,
Chết chấm dứt mạng sống." 
  Kinh Pháp Cú, phẩm 11:  Phẩm Già 




149. "Như trái bầu mùa thu,
Bị vất bỏ quăng đi,
Nhóm xương trắng bồ câu,
Thấy chúng còn vui gì?" 
  Kinh Pháp Cú, phẩm 11:  Phẩm Già  

        "Nhóm xương trắng bồ câu"  Có ý nói là những cái xương trắng như lông bồ câu.  Sau một thời gian ngắn sẽ bị hủy hoại dần dần, rồi sau đó sẽ bị biến mất trên mặt đất. 




150. "Thành này làm bằng xương,
Quét tô bằng thịt máu,
Ở đây già và chết,
Mạn, lừa đảo chất chứa." 
  Kinh Pháp Cú, phẩm 11:  Phẩm Già 

        Mạn là kiêu mạn, tự cao.  Lừa đảo là những dối gian về thân, khẩu, ý.  Với ví dụ ở trên thì xương như kèo, cột của nhà, da như mái tranh và tường nhà. 




151. "Xe vua đẹp cũng già.
Thân này rồi sẽ già,
Pháp bậc thiện, không già.
Như vậy bậc chí thiện
Nói lên cho bậc thiện."
 
  Kinh Pháp Cú, phẩm 11:  Phẩm Già 

        Thân người nữ rồi cũng sẽ già và bệnh.  Pháp của Đức PHẬT đã thuyết cách đây khoảng 2,500 vẫn đúng đắn nhiều thế hệ và nhiều thế kỷ.  Do đó Pháp của Đức PHẬT sẽ không già. 

152. "Người ít nghe kém học,
Lớn già như trâu đực.
Thịt nó tuy lớn lên,
Nhưng tuệ không tăng trưởng."
 
  Kinh Pháp Cú, phẩm 11:  Phẩm Già 

        Các vị còn trẻ, còn minh mẫn nên có thể dễ dàng học Phật pháp để tiếp thu và sửa chữa.  Nếu các vị cố chấp, nghe Đức PHẬT thuyết đúng quá mà không chịu sửa thì sẽ bị những vần thơ ở trên hay nơi nào khác chế giễu. 


Quán sát thân bất tịnh

Toàn Không Đỗ Đăng Tiến 

(Tạp A Hàm quyển 3 Kinh số 809 từ trang 131 đến 135, quyển 4 Kinh số 1165 trang 215. Phật Học Phổ Thông từ trang 23 đến 30)

Quán thân dơ bẩn trừ ham sắc dục

 

I )- Quán sát thân bất tịnh là gì?

   Là quán chiếu quan sát phân tích tỉ mỉ thân người không sạch sẽ, không đẹp đẽ, cũng chẳng thơm tho, mà ngược lại, thân người dơ bẩn khó coi, hôi hám thối tha.

II )- Tại sao lại phải quán thân bất tịnh?

   Hầu hết mọi người đều lầm tưởng cho rằng thân người là sạch sẽ đẹp đẽ thơm tho dễ thương đáng yêu. Nên đối với bản thân mình giữ gìn nâng niu, lo ăn lo mặc, tìm đủ cách để bồi đắp phục vụ cái thân. Không từ bỏ một hành vi xấu nào, bất chấp mọi thủ đoạn tàn ác vì mục đích phụng dưỡng nó. Đối với người khác phái, say mê đắm đuối, tìm đủ cách để chinh phục đoạt cho kỳ được. Vì sự đánh giá sai lầm giá trị cái thân thể mình, và sự tham đắm sắc thân người không đúng sự thật, nên cuộc đời đã xấu xa lại càng tồi tệ hơn. Đây là hậu qủa tai hại của sự chấp ngã (chấp cái ta) chấp nhân (chấp người), cần phải quán thân bất tịnh để phá tư tưởng chấp ngã nhân.

   Muốn biết thân người bất tịnh như thế nào, đức Phật dạy chúng ta quán sát từ lúc thụ thai tới lúc chết, thân người đều không sạch, có ba giai đoạn quán thân bất tịnh:

1)- Quán hột giống và chỗ ở không sạch (Chủng tử, trụ xứ bất tịnh):

   Là quan sát hạt giống yếu tố nguyên nhân đầu tiên của sự sinh ra thân người, chủng tử của thân mạng gồm hai phần tinh thần và vật chất. Phần tinh thần gọi là “thần thức” hay “nghiệp thức” hay “thức thiện ác” của ý khẩu thân đã chứa trong “tàng thức” (A lại đa thức) của mỗi người mà người đời không hiểu gọi là “linh hồn”. Khi con người chết đi, nghiệp lực dẫn dắt đi tái sinh tùy theo nghiệp đã tạo thiện hay ác mà được đến chỗ tốt hay xấu, nó là “sinh lực” và là “chủ nhân” của loài hữu tình.

   Cái tàng thức hay thần thức này không trong sạch vì nó là kết tinh của đủ thứ tham sân tà kiến, yêu ghét, ác độc, nên nó xấu xa nhiễm ô bất tịnh. Đã bất tịnh thì phải tìm bạn bất tịnh mà kết giao cho cuộc sống mới, nên mới tìm gá với, hòa duyên vào chỗ bất tịnh là tinh cha huyết (trứng) mẹ, tức là gá hòa vào cái thai mới kết tụ vậy. Tinh huyết là chất hôi tanh không thơm trong cơ thể con người.

   Cái thai nhơ nhớp dơ bẩn, kẻ dơ bẩn phải ở chỗ không sạch, cái thai phải nằm trong cái bọc như trong ngục tối tăm. Cái thai phải nằm trong bào thai co quắp đầm mình trong nước máu nhớt hôi tanh trong suốt chín tháng mười ngày mới thoát ra được. Khi ra, có khi gặp khó khăn, ra ngang ra ngược, có khi phải mổ thân mẹ để lấy ra, có khi bị ngộp thở, bởi vậy vừa ra khỏi bụng mẹ liền khóc thét lên “khổ qúa! khổ qúa!”.

   Như vậy mầm sống đầu tiên của con người từ tinh thần đến thể chất đều không sạch, lại sống trong chín mười tháng ở nơi tối tăm dơ bẩn như thế. Quán sát rõ ràng rồi sẽ dẹp lòng kiêu căng về con người sạch sẽ đẹp đẽ thơm tho, dẹp lòng tham đắm say mê sắc thân người khác.

2)- Quán bản chất thân và thân sinh ra chất không sạch ( tự thể, tự tướng bất tịnh):

   Về tự thể bản chất thân người vốn cấu tạo bằng những chất không sạch. Lấy thí dụ “tóc”, mọi người cho là đẹp, nhưng nếu không chăm sóc cắt tỉa uốn chải tắm gội xoa nước hoa dầu thơm thì làm gì có mùi thơm mà ngược lại có mùi hôi nồng nặc làm chỗ cho loài chấy rận sinh sống, Lúc ấy đầu tóc rối bù hôi hám như tổ cú, thử hỏi có ai yêu thích đắm say được nữa không? Khi đem lột da mặt của một người, ta thấy thịt máu bầy nhầy trông phát khiếp sợ, có ai mê được cái mặt ấy nữa hay không? Thật khủng khiếp khi thấy một tai nạn làm vỡ bể đầu một người, lúc ấy máu chảy óc lòi ra thật là dễ sợ. Những chất trong con người chẳng có cái gì đẹp đẽ thơm tho cả.

   Thân sau khi ra khỏi bụng mẹ, bắt đầu cuộc sống mới với sáu căn mắt tai mũi lưỡi thân ý điều hòa với các bộ phận trong người thường tiết ra những chất dơ bẩn, mà ai cũng thấy là không sạch, ghê tởm cần phải tránh xa.

1- Về mắt: Hai mắt tiết ra chất nhử hay ghèn phải lau rữa, nếu người nào có một cục nhử ở khóe mắt, người khác trông thấy sẽ ghê tởm xa lánh.

2- Về tai: Hai lỗ tai lại tiết ra chất dơ khác gọi là ráy tai, ráy tai khô còn đỡ, nếu ráy tai ướt có mùi hôi gọi là thối tai, chẳng ai muốn gần người thối tai.

3- Về mũi: Hai lỗ mũi thường hay chảy nước, có khi đặc sệt xì ra coi khiếp qúa, nhất là những lúc cảm cúm càng sản xuất nhiều hơn nữa chất dơ bẩn này.

4- Về lưỡi miệng mồm hay chảy ra nước rãi, nhổ ra nước bọt, khạc ra đờm xanh đàm vàng gớm ghiếc qúa. Có người không gìn giữ hàm răng hay buồng phổi, nên mỗi khi nói chuyện mùi hôi trong miệng xông ra làm cho người đối thoại phải bật ngửa người ra xa!

5- Về thân: Trên thân có rất nhiều lỗ chân lông thường tiết ra mồ hôi khi nóng nực, gọi là mồ hôi vì mùi nó hôi chứ không thơm. Có người hôi nách, nếu không tắm rửa thường xuyên và bôi dầu khử mùi hôi, sẽ làm nhức mũi người bên cạnh. Thân còn hai lỗ nữa tiết ra nước tiểu khai khú và phân hôi thối khủng khiếp mà ai cũng biết không cần phải dài dòng. Khi bị bệnh nặng hay lớn tuổi, các chất nhơ nhớp dơ bẩn từ chín lỗ nêu trên không kiểm soát được nữa, chúng muốn ra lúc nào thì ra, gây biết bao khổ sở cho thân người và làm ghê tởm cho cả những người khác nữa. Như hắt hơi, ho bắn ra đàm, nước tiểu hay phân rỉ chảy ra, thật khó coi, nhơ nhớp hôi hám.

   Như vậy, rõ ràng thân người thật ra là đáng ghê tởm, nhưng ít người thừa nhận như thế do sự mê muội từ nhiều đời nhiều kiếp tham đắm bề ngoài, nhầm cái đẹp hào nhoáng được che đậy bao phủ bởi lớp nhung lụa phấn son, nhưng chỉ ít giờ sau là chất bất tịnh lại hiện ra.

   Hành giả quán sát thân mình hay thân người khác cũng dơ bẩn như nhau không hơn không kém. Khi nào thấy rõ ràng từ bản chất thân đến sự sinh sản của thân, sản xuất ra toàn là chất bất tịnh rồi mới đúng lý của nó.

3)- Quán sát người chết dơ bẩn thối tha (chung cánh bất tịnh):

   Sau khi chút hơi thở cuối cùng, thần thức ra khỏi xác mang theo cái nghiệp đã gây ra trong suốt cuộc đời khi sống. Cái xác không hồn dần dần trở nên cứng ngắc, trả lại cho bốn đại là đất nước gió lửa. Hơi thở về với gió, hơi ấm về với lửa, chất lỏng về với nước, và chất cứng về với đất. Khi thân xác phân hóa thì những ruột gan phèo phổi v.v…tan rã thành nhơ nhớp hôi thối ghê tởm. Dù cho xác chết là người đẹp người thân nhất trên đời, dù cho là cành vàng lá ngọc tiểu thơ công chúa, dù cho là nguyên thủ thống lãnh uy phong lừng lẫy v.v… cũng đều như thế cả. Nếu với khí hậu nóng nực không gìn giữ thân xác ấy trong phòng lạnh, chỉ vài ngày sau, chất nước phân hóa chảy ra, mùi hôi thối xông lên không sao chịu nổi. Sự thật này được phơi bày rõ ràng trong thời chiến tranh, mà nhiều người đã từng chứng kiến cảnh xác chết rữa thối khiến phải bịt mũi nhắm mắt ngoảnh đi chỗ khác. Nói một cách tổng quát, dù  người giàu kẻ nghèo, người sang kẻ hèn, người đẹp kẻ xấu, người trẻ kẻ già, ai ai khi chết cũng trương sình mục rữa thôi tha ghê sợ cả.

   Tóm lại, qua ba giai đoạn quán sát thân người bất tịnh nêu trên, chúng ta có quan điểm rõ ràng về những cái dơ bẩn của thân thể con người  từ khởi đầu cho đến lúc chết. Không có một tí gì là sạch sẽ thơm tho mà chỉ là che đậy đánh bóng thân bằng tắm gội chải chuốt phấn son trong nhất thời, và nếu buông lơi là chất dơ bẩn lại xuất hiện, vì cội gốc bản chất của thân thể là bất tịnh.

III )- Quán thân bất tịnh như thế nào?

   Hầu hết mọi người đều qúy trọng thân mình, tham sống một cách mãnh liệt đến nỗi tìm mọi cách để phục vụ cho thân mình bất chấp mọi bất công phi lý, hành động hiếp đáp giành giật một cách tàn nhẫn. Nếu quán sát kỹ càng, chúng ta sẽ thấy thân không qúy báu, không xứng đáng cho chúng ta tự hào hay tham đắm mến chuộng.

   Chúng ta phải quán ngày quán đêm, quán nhiều lần, quán rồi quán nữa, quán không ngưng nghỉ về sự dơ bẩn của thân như thế rồi, ái dục, nhục dục, tham dục, tình dục sẽ bị tiêu diệt. Những cái hôi hám, khắm khú dơ bẩn sẽ làm cho tính ham mê nhục dục nhạt nhòa, lòng khát khao tình dục xấu xa bị phá tan tành vì sự dơ bẩn khiếp đảm. Không còn thấy một tí nào đáng qúy đáng yêu cái thân hôi hám thối tha của mình của người được nữa.

    Nếu chưa hết, chưa nhòa sự ham nhục dục, cần phải quán nữa, quán liên tiếp không ngưng nghỉ, đến khi nào thấy rõ như thật thân là bất tịnh, không muốn gìn giữ, không muốn gần gũi, muốn xa lià, muốn thoát ly mới thôi. Khi nào không còn ham thích cái thân mình, không còn lưu luyến thân người khác phái, khi nào gần gũi cảm thấy chán ngán, thấy ghê sợ thật sự, mới tạm ngưng quán. Chỉ dừng quán khi lòng dục vọng, lòng ham thích nhục dục bị phá nát tan bởi quán chiếu sâu thẳm trong suy tư triền miên. Chỉ ngừng quán chiếu thân bất tịnh khi ham muốn ái dục bị triệt tiêu không còn manh giáp, không còn cách nào ngóc đầu lên được nữa mới thôi.

   Do sự quán sát nhận chân ra cái nhơ nhớp hôi hám của thân thể mà màn ảo ảnh đẹp đẽ thơm tho qúy hóa của xác thân người bị xé toang phơi bầy bộ mặt thật, giúp người tu hành hướng đến giá trị chân thật một cách dễ dàng.

   Tuy nhiên, chúng ta không nên kết luận một cách vội vàng rằng “cái thân bất tịnh thối tha nhơ nhớp, hãy diệt nó đi bằng cách tự tử chết cho rồi”. Làm như vậy là xét đoán một cách nông cạn, vì trong thân bất tịnh còn có một cái qúy giá vô cùng, đó là “Phật tánh” đẹp đẽ sạch sẽ bất sinh bất diệt mà đức Phật đã cho biết. Phật tánh tuy  lẫn trong cái bất tịnh dơ bẩn, nhưng nó không bị nhiễm ô hoen ố như hoa sen từ bùn chui lên mà không dính mùi bùn, lại có mùi thơm đặc biệt. Nếu chúng ta biết lợi dụng cái thân không sạch không bền mà tìm ra cái sạch cái bền, chúng ta đã làm đúng ý mà đức Phật đã dạy vậy.

   Như thuở ấy, thời đức Phật còn tại thế, khi Ngài ngự tại rừng Tát La Lê thuộc làng Kim Cương ven sông Bạt Cầu Ma, vì thấy các đệ tử phần lớn ham sắc dục, nên Ngài dạy các Tỳ Kheo quán thân bất tịnh, tu tập nhiều được lợi ích lớn. Sau khi giảng rồi, Ngài nhập thất hai tháng không tiếp xúc một ai, trừ người mang thức ăn và ngày trăng tròn thuyết giới. Vào ngày Phật thuyết giới của tháng thứ hai, thấy thiếu vắng các Tỳ Kheo, Ngài hỏi Tôn giả A Nan, thị giả của Ngài do nhân duyên nào mà hội trường thưa vắng hơn trước. Bấy giờ Tôn giả A Nan mới trình bày rằng: “Sau khi giảng dạy về quán thân bất tịnh, Thế Tôn nhập thất, các Tỳ Kheo tinh tấn thiền quán thân bất tịnh sinh ra chán ghét cái thân dơ bẩn thối tha, không muốn sống nữa. Do đó có nhiều người tự tử bằng cách uống thuốc độc, hoặc tự đâm, hoặc nhảy xuống sông, hoặc đâm đầu vào đá, còn phần lớn là nhờ người giết giùm. Có con của một tu sĩ ngoại đạo đã làm việc đi giết giùm các Tỳ Kheo chán cái thân thối tha dơ bẩn, nên tất cả đã có 60 Tỳ Kheo tự tử như thế”. Rồi Tôn giả thỉnh Phật nói pháp khác khiến các Tỳ Kheo nghe xong tinh tấn tu tập trí tuệ, được sống an vui trong chính pháp.

   Bấy giờ đức Phật liền giảng: tuy cái thân dơ bẩn thật sự như thế, nhưng nó còn có cái quý giá ở trong. Không nên bỏ cái thân, mà cần giữ cái thân gớm ghiếc ấy để thoát khỏi nó, thoát khỏi sinh tử luân hồi. Nếu chết rồi, sẽ lại có cái thân khác, còn dơ bẩn hơn nữa, không có ngày ra khỏi, mà cần phải tu để thoát ra khỏi, không còn tái sinh nữa mới đúng ý nghĩa.

IV )- Lợi ích của quán thân bất tịnh

   Vì sự đánh giá sai lầm lấy xấu làm đẹp, lấy dở làm hay, lấy hôi thối làm thơm tho, thì tất nhiên cái đẹp cái hay cái thơm thật sự bị bỏ quên bỏ rơi không còn được biết đến nữa. Phần lớn mọi người đã chấp cái “ta” tức là chấp cái thân nhỏ hẹp ngắn ngủi mà bỏ quên cái “tâm” rộng lớn đẹp đẽ bất biến trường tồn.

   Làm thế nào để tìm ra cái bất biến trường tồn ấy? Bằng cách không coi thân mình là trọng, không coi thân người khác là đẹp là thơm, vì thực chất của nó là bất tịnh. Khi đã không thiết tha qúy mến thân mình và thân người nữa, sẽ không tìm đủ cách phục vụ thân mình hoặc chiếm đoạt thân người. Khi không còn yêu qúy tham đắm sắc thân, không còn tham sân gây bao khổ não. Không còn tham sân gây bao khổ não, tâm không còn loạn động, hết vọng tưởng, được yên tĩnh thảnh thơi tiến tới thanh tịnh. Lúc đó chân tâm mới hiện ra, tức là được giải thoát vậy.

   Nhưng vàng ngọc không phải tự nhiên có, mà phải tìm kiếm tôi luyện mài dũa mới có. Người tu hành cũng vậy cần phải gia công tu luyện, phải có sự sáng suốt không để cho ái dục khuấy phá, lấy giả làm chân lấy xấu làm đẹp. Người tu hành còn phải thành thật với chính mình trong vấn đề quán sát và phải tôn trọng sự thật, không để thành kiến tự ái, vào hùa thiên vị xen vào. Đó là người có trí tuệ, cộng với sự kiên nhẫn bền bỉ nữa, khó gì không thành công tốt đẹp.

   Như thuở xưa, Tôn giả Ưu Ba Ni Sa Đa quán thân người chỉ toàn là nhơ nhớp thối tha, từ chân đến đầu, từ ngoài vào trong. Từ tóc tai mắt mũi lưỡi răng cho đến tim gan phổi ruột, v.v… không cái nào sạch sẽ đáng tham đắm, không cái nào chân thật, tất cả chỉ là huyển hóa, che đậy, dối gạt. Khi người chết thành một tử thi bỏ ngoài gò mả sình trương bầm tím, máu mủ chảy ra, gân thịt rữa thối, cầm thú rỉa ăn, ròi bọ sinh sản,  xương gân ly tán. Lúc ấy chỉ còn lại xương khô, dần dần tiêu thành tro bụi hư không, nên thân sắc chẳng khác với không. Quán sát thiền định kiên cố trong nhiều ngày như thế, Tôn giả ngộ thật tánh “sắc không không hai”, thành A La Hán, bậc Thánh, đã được Phật ấn khả. 




        Ba mươi hai tướng tốt của Đức Phật hay ba mươi hai tướng đại trượng phu của Đức Phật: 

1.  Lòng bàn chân bằng phẳng. Tướng này được xem là tướng tốt của bậc Đại nhân:  Do hộ trì tịnh giới mà được. 

2.  Dưới hai bàn chân của Đức Phật có hiện ra hình bánh xe, với ngàn cây căm nối trục xe với vành xe, với các bộ phận hoàn toàn đầy đủ. Tướng này được xem là tướng của bậc Đại nhân:  Do làm các việc bố thí trí huệ mà được. 

3.  Gót chân thon dài: 

4.  Ngón tay, ngón chân dài: 


5.  Tay chân mềm mại:  Do dâng thí y phục đẹp quý mà được. 

6.  Tay chân có màn da lưới:  Do chẳng phá chúng của người (không gây ồn ào, không làm náo loạn tâm của người) mà được. 

7.  Mắt cá tròn như con sò: 

8.  Ống chân như con dê rừng:
 

9.  Khi Đức Phật đứng thẳng, không co lưng xuống có thể sờ đầu gối với hai bàn tay:  Do giúp đỡ công việc cho người mà được. 

10.  Tướng mã âm tàng (nam căn ẩn kín trong mình):  Do che dấu lỗi của người khác mà được. 

11.  Màu da đồng, màu sắc như vàng: 

12.  Da trơn mướt, khiến bụi không thể bám dính vào: 

13.  Lông da mọc từ lông một, mỗi lỗ chân lông có một lông: 

14.  Lông mọc xoáy trong thẳng lên, mỗi sợi lông đều vậy, màu xanh đậm như thuốc bôi mắt, xoáy lên từng xoáy tròn nhỏ, và xoáy về hướng mặt: 

15.  Thân hình cao thẳng:
 

16.  Giọng nói tuyệt diệu như tiếng chim Ca-lăng-tần-già (khi Đức Phật nói phát ra tiếng Phạm âm trong sáng):  Do thường nói lời dịu dàng mà được. 

17.  Hai mắt với những tròng mắt màu xanh da trời đậm:  Do tu tập từ tâm vô lượng mà được. 

18.  Lông mi mắt như lông mi ngưu vượng (trâu chúa):  Do chí tâm cầu vô thượng Bồ Đề mà được. 

19.  Giữa hai lông mày, có sợi lông trắng mọc lên, mịn màng như bông nhẹ (tướng bạch hào là tướng có lông trắng giữa chặn mày):  Do tán thán công đức của người khác mà được. 

20.  Đức Phật có nhục kế trên đầu (giữa đỉnh đầu thịt vun lên cao như búi tóc). Tướng này được xem là tướng tốt của bậc Đại nhân:  Do cung kính cha mẹ, sư trưởng mà được.
 

21.  Nửa thân trước như thân con sư tử (ngực như ngực sư tử vun cao):  Do tu pháp lành mà được. 

22.  Đức Phật không có chỗ lõm khuyết xuống giữa hai vai:  Do đem pháp lành giáo hóa chúng sanh mà được. 

23.  Thân thể cân đối như cây bàng. Bề cao của thâ ngang bằng bề dài của hai tay sải rộng, bề dài của hai tay sải rộng ngang bằng bề cao của thân: 

24.  Nửa thân trên vuông tròn: 

25.  Quai hàm như con sư tử hay có chỗ nói hai gò má đầy như gò má sư tử:  Do luôn phát nguyện tu hành thiện pháp mà được. 

26.  Đầy đủ bốn mươi cái răng:  Do dùng tâm bình đẳng đối với chúng sanh mà được. 

27.  Răng đều đặn không cao không thấp:  Do bố thí các vật trân bửu mà được. 

28.  Răng không khuyết hở:  Do hòa hợp các việc tranh tụng mà được. 

29.  Răng cửa trơn láng:  Do thân, khẩu, ý thanh tịnh mà được. 

30.  Tướng lưỡi rộng dài che trùm cả mặt:  Do giữ gìn bốn lỗi ác nơi miệng mà được. 


Tám mươi vẻ đẹp của Đức Phật hay tám mươi vẻ đẹp tùy hình của Đức Phật: 

1. Không thấy đỉnh tướng:  Chòm đỉnh đầu của Đức Phật càng nhìn càng cao, nên chẳng thấy đỉnh.
2. Mũi cao, lỗ mũi không lộ
3. Lông mày như trăng non
4. Dái tai rủ xuống
5. Thân rắn chắc như na-la-diên
6. Khớp xương chắc như móc khoá
7. Một khi dở mình, xoay người thì như voi chúa
8. Lúc đi chân cách mặt đất bốn tấc và hiện ấn văn
9. Móng như màu đồng đỏ, mỏng và láng bóng
10. Xương đầu gối rắn chắc tròn và đẹp
11. Thân trong sạch
12. Thân mềm mại
13. Thân chẳng cong vẹo
14. Ngón tay tròn mà thon nhỏ
15. Vân ngón tay ẩn kín
16. Mạch sâu chẳng hiện
17. Mắt cá ẩn
18. Thân bóng bẩy mượt mà
19. Thân chẳng uốn éo
20. Thân đầy đủ
21. Dung nghi đầy đủ
22. Dung nghi hoàn toàn
23. Trụ xứ yên không động
24. Oai chấn hết thảy
25. Mọi chúng sanh thấy đều vui mừng
26. Mặt chẳn dài to
27. Dung mạo ngay chính không lệch lạc
28. Mặt mũi đầy đặn
29. Môi đỏ như quả Tần-bà
30. Tiếng nói vang trầm
31. Rốn sâu tròn đẹp
32. Lông xoăn theo chiều bên phải
33. Tay chân tròn trặn
34. Tay chân như ý
35. Vân tay sáng thẳng
36. Vân tay dài
37. Vân tay chẳng đứt
38. Chúng sanh có ác tâm thấy Người thì đều hoà nhã vui vẻ
39. Mặt rộng và rất đẹp
40. Mặt mũi thanh tịnh và đầy đặn như vầng trăng tròn
41. Nói năng hoà nhã với chúng sanh đúng theo ý thích của họ
42. Lỗ chân lông toả ra mùi thơm
43. Miệng toả mùi thơm tuyệt vời
44. Dáng điệu, cử chỉ, dung mạo như sư tử
45. Đi đứng oai vệ như voi chúa
46. Tướng đi như ngỗng chúa
47. Đầu như quả ma-đà-na
48. Mọi thành phần đều đầy đủ
49. Bốn răng cửa trắng và sắc
50. Lưỡi màu đỏ
51. Lưỡi mỏng
52. Lông màu hồng
53. Lông mềm mại sạch sẽ
54. Mắt rộng dài
55. Tướng tử môn đầy đủ
56. Tay chân trắng đỏ như màu hoa sen
57. Rốn chẳng lồi
58. Bụng chẳng lộ
59. Bụng thon
60. Thân chẳng khuynh động
61. Thân trì trọng
62. Thân lớn
63. Thân dài
64. Tay chân mềm mại, sạch sẽ bóng bẩy
65. Xung quanh có hào quang dài một trượng
66. Khi đi có hào quang chiếu trên thân
67. Coi chúng sanh bình đẳng như nhau
68. Chẳng khinh chúng sanh
69. Âm thanh tuỳ theo chúng sanh, chẳng tăng chẳng giảm
70. Thuyết pháp chẳng chấp trước
71. Tuỳ theo ngôn ngữ của chúng sanh mà thuyết giảng
72. Pháp âm ứng với thanh của chúng sanh
73. Tuần tự ứng với nhân duyên mà thuyết pháp
74. Hết thảy chúng sanh ngắm thân tướng Phật mà chẳng ngắm hết
75. Ngắm mãi không chán
76. Tóc dài và đẹp
77. Tóc chẳng rối
78. Tóc xoăn đẹp
79. Màu tóc như ngọc xanh
80. Tay chân là tướng bậc có đức. 

        A Di Đà Phật, vì các sách và kinh điển biên dịch có những sự khác nhau theo thời gian nên Quang sẽ nghiên cứu để đăng những nguyên nhân cho ba mươi hai tướng tốt của Đức Phật.  Quang phải thật kỹ lưỡng nêu những nguyên do cho ba mươi hai tướng tốt của Đức Phật nếu không muốn bị đọa địa ngục.  Trên mạng internet không có nơi nào đăng ba mươi hai tướng tốt này, A Di Đà Phật 


        Mới:  A Di Đà Phật, ngày mai Quang sẽ cập nhật bài mới để quý vị học.  Quang xóa những hình ảnh của shemale và hefemale vì có nhiều người không hiểu và phản đối.  Nhìn hình những shemale, nhiều người nữ không hiểu còn so sánh và khoe thân thể 100% cho nhiều người khác xem !!  Quang sẽ đăng một hình của Đức Phật A Di Đà và Bồ-Tát Quán Thế Âm và Bồ-Tát Đại Thế Chí có nội dung gần như vậy để quý vị giác ngộ và không còn chấp nam nữ.  Hình Tây Phương Tam Thánh: 



        Hình Đức Phật Bổn Sư, Bồ-Tát Văn Thù Sư Lợi và Bồ-Tát Phổ Hiền: 




        Mới:  Quý vị nên ghé trang Phật giáo mới của Quang để biết thêm những cập nhật mới:  http://NamoAmitabha.ws